Chuyên mục
Học vui

Yêu lắm lớp 12 ơi…

– Năm 11 kết thúc, tôi chỉ cầu mong thời gian trôi nhanh để được tốt nghiệp ra trường. Bởi mỗi thành viên trong lớp đều có vẻ xa cách, giao tiếp hời hợt, chỉ lo học và thỉnh thoảng “ghét ngầm” nhau…

Những ngày cuối năm 11…

         Hai năm. Một khoảng thời gian đủ lâu để tôi thích nghi với sự chững chạc.

        Đôi lúc tôi muốn có một cô bạn gái đứng trước mặt mình và nói: “Tôi không ưa bạn”, hoặc bọn con trai trong lớp chọc ghẹo tôi. Tôi cũng mong bị ai đó ném vào đầu một nhúm giấy vo viên để tôi tức lên, giãy nãy, và…”phản pháo” lại…

        Nhưng đó chỉ là những hình ảnh thời cấp hai xưa…

        Lớp 11 – đủ lớn và đã biết suy nghĩ sâu xa. Vì thế, những bạn “không thích” tôi sẽ không bao giờ biểu lộ ra khuôn mặt, cử chỉ. Bên ngoài, họ vẫn nói cười, giao tiếp vui vẻ. Nhưng kì thực, tôi “nghe loáng thoáng” những sự “bình phẩm”, và cảm nhận được những cái bĩu môi sau lưng mình.

       Bọn con trai cũng đã lớn, đã biết tôn trọng phái yếu. Và tất nhiên, mọi người hành xử với nhau “kiểu người lớn” nên cuộc sống cũng vì thế mà “người lớn” nốt… Lớp không có lấy một cặp “tình nhân”, và mọi người chỉ thích chơi thân với “bạn bên ngoài”….

      Họ quan trọng từng con điểm và chẳng để ý đến những chuyến đi dã ngoại.

      Tâm trạng của tôi: lạc lõng, buồn bã và nuối tiếc thời thơ ấu…

      Quen rồi những sự hời hợt, nỗi cô đơn và những sự hiểu lầm giữa những cái đầu suy nghĩ phức tạp

      Mong thời gian trôi nhanh… Sống trong một bầu không khí lớp học quá ngột ngạt, bao mâu thuẫn xô đẩy chen lấn, và phải mang vác một tính cách giả tạo, tôi chịu không được…

Vậy mà…

Tôi hoàn toàn bất ngờ trước những điều bí mật được “phanh phui”… Nào là Bin và Jam đã từng… quen nhau (nhưng không công khai), và chia tay một tháng sau đó; nhỏ lớp trưởng từng “say nắng” một anh chàng ngồi cạnh mình; và cậu Fuyu đã từng… để ý tôi vào đầu năm học… Tất tần tật mọi chuyện, tôi “tổng hợp” được từ nhiều nguồn… Hai năm qua, vì mãi chúi mũi vào chuyện học, tôi chẳng hề quan tâm đến…

Thì ra, lớp mình cũng có những chuyện thật thú vị…

       Lên 12, tự nhiên lớp tôi có nhiều nhân vật bắt đầu… để ý nhau công khai. Họ trở thành đề tài bất tận của những bạn còn lại trong lớp. Năm cuối cấp, chúng tôi học chung mỗi ngày 10 tiết, nên trò chuyện ngày càng nhiều… Những “tình cảm khó nói” dần nhen nhóm từ khi ấy, có thể là tình bạn, tình yêu, hoặc cái gì đó cao đẹp hơn…

      Tôi phát hiện ra mình cười nhiều hơn… Tiết học nào đối với tôi cũng là sự thú vị, khi bạn bè pha trò hoặc thầy cô đùa ghẹo.

      Tôi không còn học vì danh hiệu. Vì thế mà việc học trở nên nhẹ nhõm dù bài vở càng nhiều mỗi ngày. Đối với chúng tôi, bằng tốt nghiệp loại trung bình cũng được, miễn là đậu đại học và làm được những điều mình muốn khi chạm vào tuổi 18…

      Tôi bắt đầu mong ngóng được đến lớp vào mỗi ngày. Vì khi ấy, tôi có thể quan sát cảnh anh chàng mọt sách “liếc mắt đưa tình” với cô bạn lớp phó, hay “xóm nhà lá” thường làm những trò quái đản, vui vui… Tôi cũng muốn được nghe những trận cãi nhau ùm trời từ hai nhân vật bàn cuối (có lẽ họ đang thích nhau đấy, hi hi)… Lớp mình ngày càng vui, lúc nào cũng có sự mới lạ…

       Vì phải học hai buổi nên rất nhiều bạn ở lại trường để nghỉ ngơi sau khi học xong 5 tiết buổi sáng. Chúng tôi thường bày đủ trò để giết thời gian, khi thì tán phét, lúc lại… kể chuyện nhảm… Lớp học như một “trại tị nạn” khi bàn ghế xếp cạnh nhau la liệt, và mỗi người… nằm một góc để ngủ, nghe nhạc hoặc làm bài! Thỉnh thoảng, một số đứa lại “tự sướng” bằng những bức ảnh cực vui…

      Tôi bắt đầu cảm thấy nhớ những điều đang hiện hữu trước mắt. Vì không lâu nữa, chúng tôi sẽ phải rời xa trường, chia tay nhau… Không ngờ, năm cuối cấp cũng chính là lúc chúng tôi xích lại gần nhau nhất, nhiều kỉ niệm nhất và vui nhất…

***

Đêm đã khuya, tôi vẫn chong đèn học bài và hàng loạt tin nhắn bay tới tấp thông báo: “E hèm, ngày mai có áo lớp đó bà con!”…

Một cảm xúc lạ chợt xuất hiện, dâng đầy trong tim tôi…

Và tôi hiểu rằng, tôi đang yêu lớp mình, nhiều lắm lắm…

***

Lớp học đang chí chóe… “Xóm nhà lá” không hiểu có chuyện gì mà làm nhóm nữ ở tổ 4 “nổi điên”, họ rượt nhau, gồng tay, so chuột, thậm chí… ngắt nhéo, cấu xé, những tiếng thét inh ỏi cũng những tràng cười thả giàn liên tục cất lên. Giờ ra chơi nhộn nhịp như cái chợ…

=> Lớp 12 là cái lớp khiến con người ta nhiều thứ phải suy nghĩ buồn có vui có cái lớp mà khiến các bạn học sinh lo láng cái lớp quyết định bước ngoặt của cuộc đời mỗi con người….

Các bạn hãy viết ra những suy nghĩ của bản thân mình để chia sẻ với mọi người nhé…

Chuyên mục
Học vui

Vì sao ta…lười ?

– Có bao giờ bạn phải “vật vã đau đớn” với những kì thi, mớ bài tập dồn đống, những công việc trì trệ… chỉ vì một chữ “lười”?

Hãy tự kiểm tra xem mình có thật sự lười hay không bằng trắc nghiệm sau đây nhé!
Khi lập một kế hoạch làm việc, bạn thực hiện nó thế nào?
a. Hoàn thành sớm hơn hoặc đúng tiến độ dự kiến (2đ)
b. Có trễ hơn đôi chút nhưng vẫn hoàn thành (1đ)
c. Thường xuyên “vỡ” kế hoạch (0đ)
Bạn làm bài tập/nhiệm vụ khi nào?
a. Ngay sau khi nhận nhiệm vụ (2đ)
b. Khi rảnh và có hứng thì làm (1đ)
c. Gần sát nút mới “vắt chân lên cổ” để chạy (0đ)
Hoạt động thường xuyên nhất của bạn trong ngày (trừ 8 giờ ngủ) là gì?
a. Làm việc và tạo ra sản phẩm hoặc học bài làm bài (2đ)
b. Các hoạt động ngang bằng nhau, không có hoạt động nào là thường xuyên nhất (1đ)
c. Nghỉ ngơi, như: nằm, xem tivi, đi vòng vòng, ngủ trưa, xem truyện, chơi game, “chat”, blog, buồn vu vơ… (0đ)
Khi hoàn thành được một đầu việc nhỏ, việc kế tiếp bạn sẽ làm là gì?
a. Tiếp tục lấy đà “rồ ga” hoàn tất những phần còn lại (2đ)
b. Chỉ nghỉ giải lao một tẹo rồi làm tiếp (1đ)
c. “Phải nghỉ ngơi chứ!” (0đ)
Câu nói nào sau đây thường xuyên xuất hiện trong suy nghĩ của bạn?
a. Làm nốt cho nó xong! (2đ)
b. Không biết có nên làm tiếp không… (1đ)
c. Thôi, đành để lần sau vậy! (0đ)
Nếu bạn từ 4 điểm trở xuống, bạn được chẩn đoán là mắc bệnh LLMV (lười làm mọi việc).
Mỗi người chúng ta “mắc phải” một tác nhân gây “bệnh” khác nhau, hãy xem xem bạn thuộc dạng nào trong 5 nguyên nhân sau đây nhé:
Thứ nhất, nô lệ vào cảm xúc bản thân.
H.T.P (học viên trường Trung cấp Khôi Việt) thở dài kể lại tâm sự của mình: “Thông thường, cứ mỗi lần chuẩn bị ngồi vào bàn học là mình lại cảm thấy…đói bụng. Đó là cái cớ để ngay lập tức mình bật dậy đi tìm cái gì đó để ăn. Tuy nhiên sau đó thì lại cảm thấy muốn…nghỉ ngơi mặc dù trong lòng cũng cảm thấy hơi “tội lỗi”. Thấy mình nằm không thì phí thời gian quá nên… bật tivi lên xem hay với lấy cuốn báo để đọc cho có kiến thức… Cứ việc cỏn con này nối tiếp việc be bé kia mà nhiệm vụ chính thì vẫn còn nằm “chình ình” ra đó!”. Trường hợp này không phải là “hàng hiếm” và nguyên nhân đầu tiên là do chúng ta luôn luôn tìm cách để có được những cảm giác dễ chịu tức thời, trong khi hậu quả lâu dài thì còn xa nên…tính sau. Hiện tượng này còn gọi là sự “nô lệ cảm xúc”.
Nguyên nhân thứ hai: Ý chí ít được mài giũa.
Khi gặp một bài toán khó bạn có thường hay quyết tâm giải cho bằng được hay tự nhủ với chính mình: “Thôi kệ, để mai lên lớp rồi cô giải luôn cho khỏe”? Bài vở còn vài trang bạn sẽ “xử lý” nốt hay nhưng ngáp ngắn ngáp dài: “Thôi để sáng mai dậy sớm rồi học”. Và đúng thật 6g sáng hôm sau đồng hồ báo thức reng lên, ngay lập tức bạn với tay tắt cái “bụp”: “Thôi nướng thêm 5 phút nữa thôi!”… Dần dà những lần phản ứng theo kiểu “dây dưa” như thế sẽ tạo nên một lối mòn ăn sâu vào tâm thức, một chút trở ngại cũng đủ để tự nhủ: thôi lần này bỏ qua, để lần sau rồi mình cố gắng và những lần sau thì… buông xuôi “tới đâu thì tới”. Hiện tượng này còn gọi là “thui chột ý chí”.
Nguyên nhân thứ ba: Xe không chạy vì động cơ yếu sinh lực
Theo cuộc khảo sát về hứng thú học tập trong những năm gần đây, gần 75% học sinh và sinh viên cho rằng học hành thì chẳng mấy thú vị. N.M.Vũ (học sinh trường TKH) tâm sự trên blog cá nhân: “Sáng sớm mở mắt đã thấy chữ “chán” treo lơ lửng trên đầu. Ngồi vào bàn chưa đầy 15 phút là đã muốn bật dậy đi đâu đó. Học kì vừa rồi có 2 môn dưới điểm trung bình, bị “ổng bả” nẹt cho một trận. Riết rồi cũng quen, chả muốn làm gì, chẳng còn thiết tha chuyện gì nữa”.
Xe chạy thì phải có động cơThủ phạm thứ ba làm cho ta lười chính là thiếu đi động lực để hành động.
Nguyên nhân thứ tư: Không không biết đường thì cũng chẳng muốn đi
Có bao giờ bạn tự hỏi: “Trời ơi quá nhiều việc để làm nên chẳng biết phải làm cái nào trước”. Thủ phạm thứ tư là chính là do công việc không rõ ràng nên không biết bắt đầu từ đâu. Thiếu kế hoạch, thiếu sắp xếp sẽ làm cho đầu óc trở nên ngập chìm trong một mớ hỗn độn mà sắp xếp lại là cả một vấn đề và điều duy nhất có thể làm là rời bỏ cái mớ hỗn độn đó.
Nguyên nhân thứ năm: Hết pin
Nếu tất cả các nguyên nhân trên đều không phải thì bạn nên kiểm tra lại “mức xăng” của mình. Sức khỏe kém là một bức tường lớn khiến cho bạn phải chùng chân dù chỉ cần bước lên một cái bậc cửa. Nếu như có biểu hiện ngủ nhiều, uể oải, hay chóng mặt, đầu óc cứ oang oang và thường xuyên có cảm giác rỗng tuếch thì có lẽ cơ thể của bạn đã hỏng hóc làm cho bạn không còn “chạy tốt”.
Nếu đã từng nếm trải vị đắng do cái sự lười của bản thân mang lại ắt hẳn bạn sẽ thù ghét nó lắm, nhưng đau đớn là ở chỗ nó cứ kiên trì bám dính mình mãi mà chẳng có cách nào “dứt điểm” nó được. Để có thể “chia tay” với kẻ đeo bám mang tên LLMV, bước đầu tiên bạn cần phải làm là “bắt mạch” xem những nguyên nhân nào trong năm điều đã kể ở trên là thủ phạm chính dẫn đến tình trạng hiện tại của bạn. Sau đó, bạn hãy tìm hiểu thêm về những “toa thuốc” tâm lý để lấy lại sự “tự do” cho mình.
Chuyên mục
Học vui

Vật lý quanh ta 2 (nhiều điều thú vị lắm)

Những điều thú vị quanh ta có thể bạn chưa biết

ó đôi khi những điều tưởng như rằng đơn giản lắm, tưởng như ai cũng biết đến điều này.Oh… ko, chưa chắc đâu. Melissa chắc chắn với bạn rằng: có nhiều điều trong topic này bạn chưa biết đến đâu thật đó.

21- Băng trên mái nhà hình thành như thế nào?

Đã bao giờ bạn tự hỏi, những cột nước đá buông thõng từ mái nhà xuống hình thành trong giai đoạn băng tan hay băng giá. Nếu trong ngày băng tan, thì chẳng lẽ nước có thể đóng băng ở nhiệt độ trên số không? Còn nếu trong ngày băng giá, thì lấy đâu ra nước trên mái nhà?

Vấn đề không đơn giản như chúng ta tưởng. Muốn hình thành những cột băng thì trong cùng một lúc phải có hai nhiệt độ: nhiệt độ để làm tan băng – trên số không, và nhiệt độ để làm đóng băng – dưới số không.

Trong thực tế đúng như vậy: Tuyết trên mái nhà dốc tan ra vì ánh mặt trời sưởi nóng nó tới nhiệt độ trên số không, nhưng khi chảy đến rìa mái gianh thì nó đông lại, vì nhiệt độ ở đây dưới số không.

Bạn hãy hình dung một cảnh thế này. Vào một ngày quang mây, trời băng giá vẫn là 1-2 độ dưới không. Mặt trời tỏa ánh sáng, song những tia nắng xiên ấy không sưởi ấm trái đất đủ làm cho tuyết có thể tan. Nhưng trên mái dốc hướng về phía mặt trời, tia nắng chiếu xuống không xiên như trên mặt đất, mà dựng dứng hơn, nghiêng một góc gần với góc vuông hơn. Mà ta biết rằng góc hợp bởi tia sáng và mặt phẳng nó chiếu tới càng lớn thì tia sáng càng mạnh và sưởi nóng nhiều hơn (tác dụng của tia sáng tỷ lệ với sin của góc đó, như trường hợp hình trên, tuyết trên nóc nhà nhận được nhiệt nhiều gấp 2,5 lần so với tuyết trên mặt đất nằm ngang, bởi vì sin 60 độ lớn gấp 2,5 lần sin 20 độ). Đó là lý do tại sao mặt dốc của nóc nhà được sưởi nóng mạnh hơn và tuyết ở trên đó có thể tan ra.

Nước tuyết vừa tan chảy thành từng giọt, từng giọt xuống rìa mái gianh. Nhưng ở bên dưới rìa mái gianh, nhiệt độ thấp hơn số không và giọt nước (do còn bị bốc hơi nữa) nên đóng băng lại. Tiếp đó, giọt nước tuyết thứ hai chảy đến cũng đông lại… cứ thế tiếp tục mãi, dần dần hình thành một mỏm băng nho nhỏ. Rồi một lần khác, thời tiết cũng tương tự như thế, và những mỏm băng này được dài thêm ra, cuối cùng trở thành những cột băng giống như những thạch nhũ đá vôi trong các hang động vậy. Nói chung trên các căn nhà không được sưởi ấm, các cột băng cũng hình thành tương tự như trên.

22- Tiếng nói của người tí hon và khổng lồ trong “Guylive”

Trong bộ phim “Guylive du ký” của Liên Xô cũ, những người tí hon nói chuyện bằng âm điệu cao, bởi chỉ có âm điệu cao mới thích hợp với cuống họng nhỏ của họ, còn người khổng lồ Pêchya thì lại nói bằng giọng thấp. Nhưng khi quay phim đó thì người lớn lại đóng vai người tí hon và các em nhỏ đóng vai Pêchya. Vậy làm thế nào để đổi được giọng nói trên phim?

Đạo diễn Pơtusơco cho biết, lúc quay phim các diễn viên vẫn nói giọng bình thường, còn trong quá trình quay phim, người ta đã thay đổi tông bằng một phương pháp độc đáo, căn cứ vào đặc điểm vật lý của âm.

Muốn làm cho giọng của những người tí hon cao lên và giọng của Pêchya thấp xuống, các chuyên gia đã dùng những băng ghi âm chuyển động chậm để ghi lời nói của các diễn viên đóng vai người tí hon. Ngược lại, họ dùng băng ghi âm chuyển động nhanh để ghi lời nói của Pêchya. Khi chiếu phim thì cho cuốn phim chạy với vận tốc bình thường. Kết quả chiếu phim phù hợp với điều mà đạo diễn mong muốn.

Điều này xảy ra là vì khi giọng nói của người tí hon truyền đến tai thính giả, vì số lần dao động đã nhiều hơn hẳn so với các âm thanh thông thường nên đương nhiên tông sẽ cao lên. Còn khi giọng nói của Pêchya truyền đến tai thính giả, vì số lần dao động đã ít hơn âm thanh thông thường rất nhiều, nên tông sẽ thấp xuống. Tóm lại, trong cuốn phim này, âm điệu của giọng nói của người tí hon cao hơn người thường một quãng năm, và giọng nói của Pêchya thấp hơn âm điệu thông thường một quãng năm.

Với âm thanh, “kính lúp thời gian” đã được vận dụng một cách độc đáo như vậy. Hiện tượng này cũng thường xảy ra khi ta vặn máy hát với vận tốc lớn hơn hoặc nhỏ hơn vận tốc thông thường

23- Ánh sáng đom đóm có từ đâu?

Thử di nát trên đất một con đom đóm phát sáng, bạn sẽ thấy để lại trên mặt đất là một vệt dài, vẫn tiếp tục nhấp nháy, sau đó mới mờ dần rồi mất hẳn. Như vậy, ánh sáng do đom đóm phát ra là sản phẩm của một quá trình hoá học, chứ không phải là quá trình sinh học.

Bởi vì, sau khi côn trùng đã chết mà ánh sáng vẫn còn, thì rõ ràng con vật chỉ làm nhiệm vụ liên tục sinh ra loại chất phát sáng mà thôi.

Đom đóm có hai nhóm là đom đóm bay và đom đóm bò dưới đất. Cả hai nhóm này đều có thể phát ra cùng một thứ ánh sáng lạnh đặc biệt, không toả nhiệt như ánh sáng nhân tạo. Đó là vì trong quá trình phát sáng, hầu như toàn bộ năng lượng được sinh vật chuyển thành quang năng, chứ không tiêu hao thành nhiệt như ở những nguồn sáng nhân tạo khác.

Ánh sáng của đom đóm được phát ra từ một vài đốt cuối bụng. Ban ngày, các đốt này chỉ có màu trắng xám, về đêm mới phát ra ánh sáng huyền ảo qua lớp da trong suốt. Bên trong lớp da bụng là dãy các tế bào phát quang, trong cùng là lớp tế bào phản quang, có chức năng như mặt gương giúp phản chiếu ánh sáng ra ngoài.

Các tế bào phát quang có chứa hai loại chất là luciferin và luciferaza. Khi tách rời nhau, chúng chỉ là những hoá chất bình thường, không có khả năng phát sáng. Nhưng khi ở cạnh nhau, men luciferaza sẽ xúc tác, thúc đẩy quá trình oxy hoá luciferin (quá trình dùng ôxy đốt cháy luciferin). Quá trình oxy hoá này tạo ra quang năng.

Đom đóm chỉ có thể phát sáng lập loè mà không liên tục, bởi vì chúng tự khống chế việc cung cấp ôxy, sao cho phản ứng phát sáng thực hiện được lâu dài.

24- Người nhảy dù rơi như thế nào?

Nhiều người thường nghĩ rằng, khi “rơi như hòn đá” mà không mở dù, thì người sẽ bay xuống dưới với vận tốc tăng lên mãi, và thời gian của cú nhảy đường dài sẽ ngắn hơn nhiều. Song, thực tế không phải như vậy.

Sức cản của không khí đã không cho vận tốc tăng mãi lên. Vận tốc của người nhảy dù chỉ tăng lên trong vòng 10 giây đầu tiên, trên quãng đường mấy trăm mét đầu tiên. Sức cản không khí tăng khi vận tốc tăng, mà lại tăng nhanh đến nỗi chẳng mấy chốc vận tốc đã không thể tăng hơn được nữa. Chuyển động nhanh dần trở thành chuyển động đều.

Tính toán cho thấy, sự rơi nhanh dần của người nhảy dù (khi không mở dù) chỉ kéo dài trong 12 giây đầu tiên hay ít hơn một chút, tùy theo trọng lượng của họ. Trong khoảng 10 giây đó, họ rơi được chừng 400-500 mét và đạt được vận tốc khoảng 50 mét/giây. Và vận tốc này duy trì cho tới khi dù được mở.

Những giọt nước mưa cũng rơi tương tự như thế. Chỉ có khác là, thời kỳ rơi đầu tiên của giọt nước mưa (tức là thời kỳ vận tốc còn tăng) kéo dài chừng một phút, thậm chí ít hơn nữa.

25- Bức tranh kỳ lạ dưới ánh chớp

Thử hình dung bạn đứng giữa cơn dông trong một thành phố cổ. Dưới ánh chớp bạn sẽ thấy một quang cảnh kì dị. Phố đang nhộn nhịp dường như hóa đá trong khoảnh khắc: những con ngựa giữ ở tư thế đang kéo xe, chân giơ lên trong không khí; các cỗ xe cũng đứng im, trông thấy rõ từng chiếc nan hoa..

Sở dĩ có sự bất động biểu kiến đó là vì tia chớp, cũng như mọi tia lửa điện, tồn tại trong một khoảng thời gian cực kỳ ngắn ngủi – ngắn đến nỗi không thể đo được bằng những phương tiện thông thường. Nhưng nhờ những phương pháp gián tiếp, người ta đã biết được tia chớp tồn tại từ 0,001 đến 0,2 giây (tia chớp giữa các đám mây thì kéo dài hơn, tới 1,5 giây).

Trong những khoảng thời gian ngắn như thế thì chẳng có gì di chuyển một cách rõ rệt đối với mắt chúng ta cả. Mỗi nan hoa của bánh xe ở cỗ xe chạy nhanh chỉ kịp chuyển đi được một phần rất nhỏ của milimét, và đối với mắt thì điều đó cũng chẳng khác gì bất động hoàn toàn. Ấn tượng càng được tăng cường hơn nữa vì rằng ảnh được lưu lại trong mắt còn lâu hơn thời gian tồn tại của tia chớp.

26. Lúc chạy để tránh con đuổi bắt, con cáo thường thoát thân bằng cách bất thình lình rẽ ngoặt sang hướng khác, đúng vào lúc con định ngoạm cắn nó. Tại sao làm như vậy lại khó bắt được cáo?

– Khi cáo bất thình lình thay đổi hướng chạy, con sẽ không thể chạy được theo cáo, vì theo quán tính, còn phải chạy hướng cũ thêm một lúc nữa.

27. Tại sao khi nhổ cỏ dại không nên dứt quá đột ngột, kể cả khi rễ cỏ bám trong đất không được chắc?

– Khi nhổ cỏ quá đột ngột thì rễ cỏ chưa kịp chuyển động thân đã bị đứt. Rễ vẫn nằm trong đất, cỏ dại sẽ nhanh ng mọc lại.

28. Khi tàu đi vào các vùng biển nhiệt đới ở Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương, các thuỷ thủ thường thấy có những con cá bay trên mặt biển để trốn tránh cá dữ. Thoạt đầu, chúng lấy đà, rồi quẫy mạnh đuôi, vọt lên khỏi mặt nước và bay một quãng dài đến 150 m. Bay như thế cá thường bị rơi vào boong tàu. Tại sao chúng lại không đổi được hướng bay?

– Sự bay của cá được ổn định là nhờ vẫy đuôi. Vây này không thể đổi được hướng bay do đó cá bay chỉ nhờ quán tính.

29. Tại sao lúc rơi xuống, các vận động viên nhảy cao và nhảy xa phải co hai chân lại?

– Nhờ co hai chân ở giai đoạn cuối bước nhảy, vận động viên tạo thêm được đường để hãm, và nhờ thế giảm bớt được lực va xuống đất.

30. Tại sao người điều khiển bánh lái uốn mình cho ăn nhịp với người chèo sẽ làm tăng thêm được vận tốc của thuyền?

– Khi người điều khiển bánh lái vươn mình về phía trước, thuyền bị đẩy về phía sau. Nhưng những người chèo đã dùng bơi chèo đẩy nước để cản lại lực này. Khi người lái ngả người về phía sau thì thuyền tiến lên phía trước – không còn gì cản lại thuyền nữa, vì lúc đó các mái chèo của người chèo nằm trong không khí.

31. Tại sao sóc và cáo cần cái đuôi lớn?

– Con sóc nhảy được xa từ cây này sang cây khác một phần nhờ cái đuôi. Đuôi sóc là bộ phận cân bằng độc đáo. Còn đuôi cáo giúp nó rẽ ngoặt bất ngờ khi đang chạy nhanh. Đó là tấm lái không khí đặc biệt.

32. Một số cây họ đậu đã lợi dụng quán tính để phát tán như thế nào?

– Quả đậu khi chín đã nhanh ng tách ra và nở theo đường cong. Đồng thời, theo quán tính, hạt trong quả văng ra mọi phía theo đường tiếp tuyến.

33. Tại sao trước khi nhảy người ta lại phải nhún xuống một chút?

– Trước khi nhảy người ta phải khom người xuống để tăng thêm quãng đường trên đó lực đẩy của chân tác dụng và nhờ thế mà tăng thêm được vận tốc cuối cùng của thân.

34. Lớp lông co giãn ở gan bàn chân thỏ có ý nghĩa gì?

– Lớp lông co giãn được ở gan bàn chân thỏ kéo dài thêm thời gian hãm dừng lại khi nhảy, do đó đã làm giảm lực va chạm.

35. Những lông mọc trên bề mặt thân giun đất có ý nghĩa gì đối với sự di chuyển của nó?

Ở động vật, rất phổ biến những bộ phận mà nhờ chúng lúc đang chuyển động theo một hướng, ma sát sẽ nhỏ và khi chuyển động theo hướng ngược lại, ma sát lại lớn.

Lớp lông của con giun đất giúp nó di chuyển về phía trước dễ dàng, và giữ chặt không cho thân chuyển động ngược lại, nhờ đó giun bò được. Lúc thân kéo dài ra, phần đầu chuyển dịch lên phía trước, còn phần đuôi vẫn giữ nguyên tại chỗ. Khi thân co ngắn lại, phần đầu được giữ nguyên, còn phần đuôi được kéo lại gần đầu.

36. Tại sao chạy lấy đà trước, ta lại nhảy được xa hơn là đứng tại chỗ nhảy ngay?

Trong trường hợp này chuyển động theo quán tính được cộng thêm vào chuyển động xuất hiện do việc đẩy người rời khỏi mặt đất.

37. Tại sao trong lúc bay, cánh con bướm lại vỗ chậm hơn cánh con o­ng vẽ?

– Khi di chuyển mà vận tốc không đổi, khối lượng chuyển dịch càng lớn thì động lượng càng nhiều. Vì khối lượng của cánh o­ng vẽ bé hơn khối lượng của cánh bướm nhiều lần, nên cánh o­ng sẽ nhất thiết phải đập nhanh hơn.

38. Tại sao một người đang chạy, đột nhiên muốn đi quanh một cái cột hay một thân cây, phải lấy một tay ôm lấy cột hay thân cây?

– Để thay đổi hướng chuyển động nhất thiết phải tác động thêm một lực nào đó. Tác động giữa tay người và thân cây tạo ra lực này.

39. Bạn hãy quan sát kỹ sự chuyển động của con cá và con đỉa. Định luật thứ 3 của Newton đã được vận dụng như thế nào trong sự chuyển động của chúng?

– Trong khi chuyển động, các động vật này đẩy nước lại đằng sau, và chính nhờ định luật thứ 3 của Newton mà chúng chuyển động được về phía trước. Con đỉa đang bơi đẩy nước lại đằng sau nhờ thân uốn thành hình sóng. Con cá bơi được nhờ đuôi vẫy đi vẫy lại.

40. Tại sao diễn viên xiếc ngồi trên yên ngựa đang phi nhanh, nhảy lên cao, khi rơi xuống lại vẫn đúng vào yên ngựa?

– Diễn viên xiếc khi rời khỏi mình ngựa, vẫn tiếp tục chuyển động theo quán tính với vận tốc ban đầu, vì vậy mà vẫn rơi đúng vào yên ngựa.

41. Khi bị trượt chân hay bị vấp ngã, người ta ngã như thế nào?

– Khi một người bị vấp thì hai chân dừng bước nhưng thân người vẫn tiếp tục chuyển động, vì thế người đó bị ngã dập mặt xuống. Còn khi bị trượt chân, thường bao giờ cũng ngã ngửa.

42. Trọng tải bổ sung con người phải chịu ở trong tên lửa lúc phóng lên phụ thuộc vào gia tốc hay vận tốc chuyển động?

– Sự tăng trọng của con người ở trong tên lửa phụ thuộc vào gia tốc chứ không phụ thuộc vào vận tốc, nghĩa là sự tăng trọng chỉ xuất hiện vào những lúc tên lửa phóng lên, xuống và khi thay đổi hướng bay.

43. Có động vật nào chuyển động theo lối chuyển động của tên lửa không?

– Nhiều động vật ở biển – như mực, ở phía bụng, giữa đầu và thân, có một ống ngắn hình nón. Ống này thông với một xoang nằm giữa lớp áo và thân. Nước vào xoang qua khe nằm ở đầu. Nhờ sự co cơ, khe này khép lại và nước bị đẩy ra qua một phễu ở bên thân với vận tốc lớn. Xoang lại chứa đầy nước và các tia nước được đẩy ra tiếp nối nhau nhịp nhàng. Nhờ phản lực của dòng nước mà con vật chuyển dịch được. Con vật có thể hướng phễu theo những góc khác nhau đối với cơ thể nó, nhờ đó hướng chuyển động thay đổi. Bằng cách này, mực có thể chuyển dịch khá nhanh.

44. Trong lúc bơi nhanh có một số cá ép vây sát vào mình để nhằm mục đích gì? Tại sao khó cầm được con cá còn sống trong tay?

– Cá ép vây sát vào mình để giảm bớt lực cản chuyển động. Khó cầm được cá còn sống trên tay bởi sự ma sát của cá trên tay nhỏ, do đó cá dễ tuột khỏi tay.

45. Galileo Galilei viết: “Ai mà không biết, khi con ngựa rơi từ độ cao ba bốn khuỷu tay* xuống sẽ bị gãy chân, nhưng con cũng từ độ cao ấy rơi xuống lại không việc gì, và con mèo bị ném từ độ cao tám mươi khuỷu tay xuống vẫn hoàn toàn vô sự. Tương tự như vậy, côn trùng thuộc bộ cánh thẳng có rơi từ đỉnh ngọn tháp xuống, hoặc con kiến dù rơi từ Mặt Trăng xuống cũng không làm sao cả”?
Tại sao các côn trùng nhỏ bé bị rơi từ nơi rất cao xuống hoàn toàn không việc gì, còn động vật lớn sẽ chết?

* Khuỷu tay: đơn vị đo chiều dài cổ, dùng vào khoảng 1.000 năm trước Công nguyên. Một khuỷu tay bằng hai mươi “ngón cái”, vào khoảng 540 mm.

– Trọng lượng của con vật tỷ lệ thuận với lập phương kích thước cơ thể, còn diện tích – tỷ lệ thuận với bình phương. Do đó, song song với kích thước cơ thể bị giảm đi, thể tích cơ thể con vật giảm đi nhanh hơn so với diện tích. Lực cản đối với chuyển động ở trong không khí phụ thuộc vào diện tích của vật rơi. Vì thế, các động vật nhỏ bị một lực cản lớn hơn so với động vật lớn vì ở động vật nhỏ mỗi đơn vị trọng lượng ứng với một diện tích cản lớn hơn. Ngoài ra, vật có thể tích nhỏ khi va đập vào vật cản thì hầu như ngay lập tức tất cả các phần chuyển động của vật ngừng ngay lại, và vào đúng lúc va chạm, các phần của vật không đè ép lên nhau. Khi động vật lớn rơi, phần dưới của cơ thể lúc va chạm sẽ ngưng ngay chuyển động, còn phần trên vẫn tiếp tục chuyển động và gây ra một áp suất lớn lên phần dưới. Đó chính là cái “sốc”, làm thiệt mạng các động vật lớn.

46. Người ta đã xác định được là cá heo bơi rất nhanh, ví dụ: trong 10 giây chúng bơi được 100 m. Qua tính toán thấy tỷ khối của nước lớn gấp 800 lần tỷ khối không khí. Giải thích thế nào về sự bơi nhanh của cá heo?

– Từ lâu nhiều người đã cố gắng tìm hiểu tại sao cá heo và cá voi lại bơi được nhanh, nhưng chỉ gần đây mới xác định được là vận tốc của các loài này phụ thuộc vào hình dạng cơ thể của chúng. Các chuyên gia đóng tàu sau khi nghiên cứu đã tiến hành đóng một con tàu vượt đại dương có dạng không giống hình con dao, như hình dáng các con tàu hiện đại thường có, mà trông nó giống con cá voi. Chiếc tàu loại mới này đỡ tốn kém hơn, công suất của động cơ giảm 25%, nhưng vận tốc và trọng tải lại bằng các tàu bình thường.

Ngoài ra, vận tốc của những con vật này còn phụ thuộc vào lớp da của chúng. Lớp da ngoài rất dày và đàn hồi (mức đàn hồi không kém loại cao su tốt nhất), gắn với một lớp khác có nhiều mũi lồi nằm lọt vào những hốc của lớp da ngoài, và da cá heo trở thành đàn hồi nhiều hơn.

Khi vận tốc tăng lên đột ngột, trên lớp da của cá heo xuất hiện “những nếp nhăn vận tốc” và “dòng chảy tầng” (dòng chảy các lớp nước), không biến thành dòng xoắn (lộn xộn). Sóng chạy trên da cá heo sẽ làm cho dòng xoáy tắt.

47. Như mọi người đều biết, một số loài chim khi di cư xa đã bay thành từng chuỗi hay từng đàn có hình góc nhọn. Nguyên nhân gì lại sắp xếp như thế?

– Con chim khoẻ nhất sẽ bay trước. Không khí trườn quanh thân chim, giống như nước biển trườn quanh mũi và sống tàu. Điều này giải thích rõ tại sao đàn chim lại xếp thành góc nhọn khi bay. Trong giới hạn của góc này các con chim trong đàn bay được dễ dàng về phía trước. Theo bản năng, chúng đoán được những lực cản nhỏ nhất, và chúng cảm thấy ngay là mỗi con có bay đúng vị trí hay không so với con chim đầu đàn. Ngoài ra, sự sắp xếp của chim thành một dây xích còn được giải thích bằng một nguyên nhân quan trọng nữa. Sự vỗ cánh của con chim đi đầu tạo nên một sóng không khí, sóng này mang theo năng lượng và làm cho đôi cánh của những con chim yếu nhất, thường bay ở phía sau, vận động dễ dàng hơn. Chính vì thế mà chim bay thành từng đàn hoặc từng chuỗi, gắn với nhau chặt chẽ bằng sóng không khí và hoạt động của những cánh chim tạo ra sự cộng hưởng. Điều này được xác nhận như sau: nếu nối liền bằng một đường tưởng tượng các phần t của cánh chim trong một thời điểm nhất định thì ta có một đường hình sin.

48. Tại sao cá măng bơi trong nước nhanh hơn nhiều so với các loài cá khác?

– Hình dạng thuôn nhọn của đầu cá măng ít bị lực cản của nước, vì vậy cá măng bơi rất nhanh.

49. Màng bơi ở chân vịt hay ngỗng có tác dụng gì?

– Muốn chuyển dịch được nhanh về phía trước, cần phải đẩy lại phía sau một lượng lớn nước, do đó các chi bơi hầu như bao giờ cũng rộng và phẳng. Khi chân chuyển động về phía trước thì màng bơi bị uốn cong, nên chân chịu một lực cản nhỏ. Khi chân chuyển động về phía sau thì con vật dang rộng bàn chân để đẩy đủ nước và do đó tiến nhanh lên phía trước.

50. Giẫm lên hạt đậu Hà Lan khô người ta có thể bị trượt ngã. Tại sao?

– Ma sát tạo điều kiện cho sự chuyển dịch của con người. Hạt đậu khô, giống như hòn bi, làm giảm sự ma sát giữa chân người và điểm tựa.

51. Về mùa thu, đôi khi người ta treo một tấm biển: “Cẩn thận! Có lá rụng” ở chỗ có đường xe điện chạy bên các vườn cây và công viên. Ý nghĩa của việc báo trước này là thế nào?

– Những chiếc lá khô rụng xuống đường ray làm giảm ma sát, vì vậy khi đã hãm phanh, toa xe điện có thể còn trôi một đoạn đường dài nữa.

52. Tại sao về mùa hè gió mạnh thường làm gãy nhiều cây hơn về mùa đông?

– Mùa hè cây cối xum xuê. Lá làm tăng đáng kể diện tích tán cây, nên lực tác động của gió lên cây cũng tăng lên đáng kể.

53. Tại sao lúa kiều mạch ít bị gió làm hư hại và hầu như không khi nào dập gãy hoặc đổ rạp xuống?

– Bông lúa kiều mạch có tư thế này là để cho lúa có một lực cản gió bé nhất, các bông lúa quay theo chiều gió và hướng gốc về phía gió.

54. Mầm cây ngô cần một lực bằng bao nhiêu để chui được lên mặt đất?

– Chiếc mầm xinh xắn phải chịu lực cản lớn nhất ở gần lớp đất phủ. Muốn xuyên thủng lớp đất này, mầm cây cần tạo ra một lực bằng 2,5N.

55. Tại sao sự vung tay, do vận động viên thực hiện lúc nhảy, làm tăng thêm độ cao và độ dài bước nhảy?

– Vung tay đã truyền cho cơ thể một vận tốc phụ, góp phần đưa toàn bộ vận tốc của nhà thể thao tăng lên.

56. Khi đốt người, con muỗi đã thực hiện một công bằng bao nhiêu?

– Công do con muỗi tạo ra khi đốt người rất bé, xấp xỉ bằng 10-7 Jun.

Chuyên mục
Học vui

Vật lý quanh ta 1 (nhiều điều thú vị lắm)

Những điều thú vị quanh ta có thể bạn chưa biết

Trung tâm luyện thi Tô Hoàng – Có đôi khi những điều tưởng như rằng đơn giản lắm, tưởng như ai cũng biết đến điều này.Oh… ko, chưa chắc đâu. Melissa chắc chắn với bạn rằng: có nhiều điều trong topic này bạn chưa biết đến đâu thật đó.

1- Tại sao nước làm tắt lửa?

Nước được dùng để dập lửa trong hầu hết các vụ hỏa hoạn.
Vấn đề tuy đơn giản, nhưng không phải ai cũng có đáp án chính xác cho câu hỏi này. Dưới đây là giải thích của nhà vật lý Ia. I. Perenman.

Thứ nhất, hễ nước gặp một vật đang cháy thì nó biến thành hơi và hơi này lấy đi rất nhiều nhiệt của vật đang cháy. Nhiệt cần thiết để biến nước sôi thành hơi nhiều gấp 5 lần nhiệt cần thiết để đun cùng thể tích nước lạnh ấy lên 100 độ.

Thứ hai, hơi nước hình thành lúc ấy chiếm một thể tích lớn gấp mấy trăm lần thể tích của khối nước sinh ra nó. Khối hơi nước này bao vây xung quanh vật đang cháy, không cho nó tiếp xúc với không khí. Thiếu không khí, sự cháy sẽ không thể duy trì được.

Để tăng cường khả năng làm dập lửa của nước, đôi khi người ta còn cho thêm … thuốc súng vào nước. Điều này thoạt nghe thì thấy lạ, nhưng rất có lý: thuốc súng bị đốt hết rất nhanh, đồng thời sinh ra rất nhiều chất khí không cháy. Những chất khí này bao vây lấy vật thể, làm cho sự cháy gặp khó khăn.

2- Băng phẳng và băng mấp mô, thứ nào trơn hơn?

Trên sàn nhà đánh thật bóng dễ trơn trượt hơn trên sàn nhà thường. Có lẽ trên băng cũng giống thế mới phải, nghĩa là băng phẳng phải trơn hơn băng lồi lõm, mấp mô. Nhưng thực tế lại trái với dự đoán đó.

Nếu có dịp kéo một xe trượt băng chở thật nặng qua mặt băng mấp mô, bạn sẽ thấy chiếc xe nhẹ hơn đi trên mặt băng phẳng rất nhiều. Mặt băng mấp mô trơn hơn mặt băng phẳng lỳ! Điều đó được giải thích như sau: Tính trơn của băng không phụ thuộc vào sự bằng phẳng, mà hoàn toàn do một nguyên nhân khác. Đó là điểm nóng chảy của băng giảm đi khi tăng áp suất.

Ta hãy phân tích xem có điều gì xảy ra khi trượt băng trên giày trượt hoặc bằng xe trượt. Đứng trên giày trượt, chúng ta tựa trên một diện tích rất nhỏ, tổng cộng chỉ độ mấy milimét vuông. Trọng lượng toàn thân ta nén cả trên cái diện tích bé nhỏ ấy, tạo ra một lực rất lớn. Dưới áp suất lớn, băng tan ở nhiệt độ thấp. Lúc ấy, giữa đế giày trượt và băng có một lớp nước mỏng. Thế là người trượt băng đi được.

Và khi chân anh ta vừa di chuyển đến nơi khác, thì lập tức ở đó lại xảy ra hiện tượng giống như trên, nghĩa là băng dưới chân anh ta biến thành một lớp nước mỏng. Trong tất cả các vật tồn tại trong thiên nhiên, chỉ một mình băng có tính chất ấy. Một nhà vật lý Xô Viết đã gọi nó là “vật trơn duy nhất trong thiên nhiên”. Những vật khác tuy bằng phẳng nhưng không trơn.

Bây giờ, ta trở lại vấn đề băng bằng phẳng và băng mấp mô, thứ nào trơn hơn. Theo lý thuyết, cùng một vật đè nặng lên diện tích càng nhỏ, thì áp suất nó gây ra càng mạnh. Vậy thì, người trượt băng sẽ tác dụng lên trên đế tựa một áp suất lớn hơn khi đứng trên băng phẳng lỳ hay khi đứng trên băng mấp mô? Rõ ràng là khi đứng trên băng mấp mô. Bởi vì ở đây, họ chỉ đè lên một diện tích rất nhỏ chỗ nhô lên hay lồi ra của mặt băng mà thôi. Mà áp suất trên băng càng lớn, thì băng tan càng nhanh, và do đó băng càng trơn (nếu đế giày đủ rộng).

Nếu đế hẹp thì những điều giải thích trên không thích hợp nữa. Vì trong trường hợp đó, đế tựa sẽ khía sâu vào những chỗ băng nhô ra, và lúc này, năng lượng chuyển động đã bị tiêu hao vào việc khía băng.

3- Tại sao mắt mèo một ngày biến đổi 3 lần?

Đồng tử mắt mèo có thể co lại cực nhỏ để thích nghi với ánh sáng mạnh.
Dân gian Trung Quốc có câu vè về sự giãn nở ngày 3 lần của đồng tử mắt mèo như sau: “Dần, mão, thân, dậu như hạt táo; Thìn, tỵ, ngọ, mùi như sợi chỉ; Tý, sửu, tuất, hợi như trăng rằm”. Điều gì khiến cho mắt mèo có năng lực đó?

Thì ra, con ngươi (đồng tử) của mèo rất to, và năng lực co của cơ vòng ở con ngươi rất khỏe. Ở người, nếu nhìn chăm chú vào mặt trời, con ngươi của mắt sẽ thu nhỏ lại. Nhưng chúng ta chỉ nhìn được đến một mức độ nhất định mà thôi, không thể thu nhỏ thêm nữa, vì lâu sẽ cảm thấy nhức mắt. Còn nếu chong mắt lâu lâu một chút vào nơi tối tăm, ta sẽ cảm thấy ng mặt.

Nhưng mèo, dưới sự chiếu rọi của ánh sáng không như nhau, lại có thể thích ứng rất tốt. Dưới ánh sáng rất mạnh vào ban ngày, con ngươi của mèo có thể thu lại cực nhỏ, giống như một sợi chỉ. Đến đêm khuya trời tối đen, con ngươi có thể mở to như trăng rằm. Dưới cường độ chiếu sáng vào lúc sáng sớm hoặc nhá nhem tối, con ngươi sẽ có hình hạt táo.

Như vậy con ngươi của mắt mèo có khả năng co lại rất lớn so với con ngươi trong mắt người, do đó khả năng phản ứng với ánh sáng cũng nhạy hơn chúng ta. Cho nên, dù ánh sáng có quá mạnh hoặc quá yếu, mèo vẫn nhìn rõ ràng các đồ vật như thường.

4- Ai đã nghĩ ra từ gas?

Từ gas (tiếng Anh) thuộc về những khái niệm được nghĩ ra cùng lúc với các từ nhiệt kế (thermometer) và khí quyển (atmosphere). Tác giả là nhà khoa học người Hà Lan Jan Baptista van Helmont (1577-1644), sống cùng thời với Galileo. Ông đã dựa vào chữ chaos của tiếng Hy Lạp cổ để đặt ra chữ gas.

Sau khi khám phá ra rằng không khí gồm hai thành phần, trong đó một phần duy trì sự cháy (ôxy) và một thành phần khác không có tính chất như vậy, Helmont viết: “Chất khí duy trì sự cháy đó tôi gọi là gas, vì nó hầu như không khác gì cái chaos của người Hy Lạp cổ (chữ chaos của người Hy Lạp cổ có nghĩa là khoảng không sáng i lọi).

Tuy vậy, sau đó khá lâu, chữ gas vẫn không được sử dụng rộng rãi, và phải mãi đến năm 1789, nó mới được nhà hóa học Pháp nổi tiếng Lavoisier làm sống lại khi tìm ra các loại khí đốt như hydro và methane. Danh từ đó càng được phổ biến rộng rãi hơn khi người ta dùng khí nhẹ vận hành chiếc khinh khí cầu đầu tiên năm 1790.

Ngày nay, chữ gas được dùng khắp thế giới. Nó khá đa nghĩa, vì vừa có nghĩa là khí đốt, vừa có nghĩa là hơi hoặc khí nhẹ nói chung. Trong tiếng Việt, chúng ta thường gọi gas là ga, ví dụ bếp ga, bật lửa ga… (Xin phân biệt chữ ga này với chữ ga trong nhà ga, vì nhà ga được phiên âm từ chữ gare của tiếng Pháp).

5- Tại sao khi có gió lại thấy lạnh hơn?

Chắc hẳn ai cũng biết rằng trời rét mà im gió thì dễ chịu hơn so với lúc có gió. Nhưng, không phải tất cả mọi người đều biết nguyên nhân của hiện tượng ấy. Chỉ các sinh vật mới cảm thấy giá buốt khi có gió, còn các vật vô sinh thì không.

Chẳng hạn, nhiệt kế sẽ không hề tụt xuống khi để nó ra ngoài trời đang có lốc. Trước hết, sở dĩ ta cảm thấy rét buốt trong những ngày đông có gió là vì nhiệt từ mặt ta (và nói chung là từ toàn thân) tỏa ra lúc ấy nhiều hơn hẳn lúc trời im gió. Khi đứng gió, lớp không khí bị thân thể ta làm nóng lên không được thay thế nhanh bởi lớp không khí mới, còn lạnh. Còn khi gió mạnh, thì trong một phút, càng có nhiều không khí đến tiếp xúc với da thịt ta và do đó thân thể ta càng bị lấy đi nhiều nhiệt. Chỉ một điều đó thôi cũng đủ gây ra cảm giác lạnh.

Nhưng, hãy còn một nguyên nhân khác nữa. Da chúng ta luôn luôn bốc hơi ẩm, ngay cả trong không khí lạnh cũng vậy. Để bốc hơi cần phải có nhiệt lượng, nhiệt ấy lấy từ cơ thể chúng ta và từ lớp không khí dính sát vào cơ thể chúng ta. Nếu không khí không lưu thông thì sự bốc hơi tiến hành rất chậm, bởi vì lớp không khí tiếp xúc với da sẽ rất ng no hơi nước (bão hòa). Nhưng nếu không khí lưu thông và lớp khí tiếp xúc với da luôn luôn đổi mới, thì sự bốc hơi lúc nào cũng tiến hành một cách mạnh mẽ, mà như vậy cơ thể sẽ tiêu hao rất nhiều nhiệt.

6- Chúng ta có thể chịu được nóng đến mức nào?

Sa mạc tuy nóng nhưng lại khô, vì thế con người có thể chịu đựng được nhiệt độ rất cao.
Khả năng chịu nóng của con người khá hơn nhiều so với chúng ta tưởng. Tại miền trung Australia, nhiệt độ mùa hè ở chỗ râm thường là 46 độ C, cao điểm tới 56 độ. Còn nếu tăng thật từ từ, cơ thể người thậm chí còn chịu được… nhiệt độ sôi của nước.

Khi tàu bè đi từ Hồng Hải đến vịnh Ba Tư, mặc dù trong các phòng của tàu luôn luôn có quạt thông gió, nhiệt độ ở đây vẫn tới 50 độ C hoặc hơn. Mức nóng nhất quan sát trong giới tự nhiên ở trên mặt đất không quá 57 độ C. Nhiệt độ này được xác định tại “thung lũng chết” thuộc California (Bắc Mỹ).

Tuy nhiên, những nhiệt độ kể trên đều được đo trong bóng râm. Tại sao các nhà khí tượng lại phải chọn vị trí như vậy? Đó là vì, chỉ khi nhiệt kế đặt trong bóng râm mới đo được nhiệt độ của không khí. Nếu để nhiệt kế ngoài nắng, mặt trời sẽ hun nó nhiều hơn hẳn so với không khí xung quanh, thành ra độ chỉ của nó không cho ta biết chút gì về trạng thái nhiệt của môi trường.

Đã có người tiến hành thí nghiệm để xác định nhiệt độ cao nhất mà cơ thể người có thể chịu đựng được. Họ nhận thấy trong không khí khô ráo, nếu tăng nhiệt độ thật từ từ thì cơ thể chúng ta chẳng những có thể chịu đựng được nhiệt độ sôi của nước (100° C), mà đôi khi còn chịu được cao hơn nữa, đến 160° C. Hai nhà vật lý người Anh Blagơden và Tsentơri đã chứng minh điều này bằng cách đứng hàng giờ trong lò nướng bánh mì nóng bỏng.

Tại sao con người có năng lực chịu nóng cao đến vậy? Đó là vì trên thực tế, cơ thể người không tiếp nhận nhiệt lượng đó, mà vẫn giữ thân nhiệt gần với nhiệt độ tiêu chuẩn. Cơ thể chúng ta chống cự bằng cách đổ mồ hôi. Khi mồ hôi bay hơi, nó sẽ hút rất nhiều nhiệt ở lớp không khí dính sát với da, và làm cho nhiệt độ của lớp không khí ấy giảm đi rất nhiều.

Điều kiện cần thiết duy nhất giúp cho cơ thể người chịu đựng được nhiệt độ cao là cơ thể người không tiếp xúc trực tiếp với nguồn nhiệt và không khí phải khô ráo. Ở Trung Á, trời nóng 37 độ mà vẫn tương đối dễ chịu. Nhưng nếu ở Saint Peterburg nóng 24 độ thì chúng ta đã cảm thấy khó chịu. Nguyên nhân là độ ẩm không khí ở Saint Peterburg cao, còn ở Trung Á thì rất ít mưa, khí hậu vô cùng khô ráo

7- Dùng băng lấy lửa như thế nào?

Có thể dùng băng làm thấu kính hội tụ sinh lửa.
Giả sử bạn bị lạc lên một băng đảo và quên mang theo diêm hoặc bật lửa. Xung quanh chỉ có băng tuyết và những cành củi khô. Lúc ấy, có thể bạn sẽ phải dùng băng lấy lửa. Thế nhưng băng là nước hóa đặc ở nhiệt độ rất thấp, làm sao có thể sinh lửa được?

Ở đây bạn phải sử dụng một nguyên lý trong quang học, đó là kính lồi có thể hội tụ ánh sáng. Người ta có thể đắp băng thành những chiếc kính lồi lớn, trong suốt, rồi đặt nghiêng hứng ánh nắng mặt trời. Khi ánh sáng đi qua chiếc “kính băng” này, nó sẽ không hâm nóng băng, mà năng lượng được tụ lại vào một điểm nhỏ.

Nếu chiếc kính băng rộng 1 mét và dày khoảng 30 centimét, thì năng lượng ánh sáng mặt trời mà nó hội tụ có thể đủ lớn để đốt cháy một đám củi khô. Nhà văn viễn tưởng Jules Verne đã dựa trên nguyên lý này để viết ra cuốn truyện phiêu lưu “Cuộc du lịch của viên thuyền trưởng Hatterat” mà trong đó, các nhân vật trong truyện đã dùng thấu kính băng lấy lửa ở nhiệt độ – 48 độ C!

8 – Mặt trời mọc vào lúc nào?

Mặt trời mọc.

Giả sử bạn nhìn thấy mặt trời mọc vào đúng 5 giờ sáng. Ánh sáng đi từ mặt trời đến trái đất mất 8 phút. Vậy, nếu ánh sáng truyền ngay tức khắc thì phải chăng chúng ta sẽ nhìn thấy mặt trời sớm hơn 8 phút, tức là vào lúc 4 giờ 52?

Chắc hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên khi biết rằng câu trả lời ấy hoàn toàn sai. Nguyên do vì khái niệm mặt trời “mọc” thực ra chỉ có nghĩa trái đất của chúng ta quay những điểm mới trên bề mặt của nó tới vùng đã được chiếu sáng sẵn. Cho nên, dù ánh sáng có truyền ngay tức khắc, thì bạn vẫn nhìn thấy mặt trời mọc vào cùng một lúc như trường hợp ánh sáng truyền đi phải mất một số thời gian, tức là vào đúng 5 giờ sáng!

Nhưng nếu bạn quan sát (bằng kính thiên văn) sự xuất hiện của một “tia lửa” ở đĩa mặt trời thì lại là một chuyện khác. Nếu ánh sáng truyền ngay tức khắc thì bạn sẽ nhìn thấy tia lửa xuất hiện sớm hơn 8 phút.

9- Chúng ta uống như thế nào?

Uống nước không chỉ là dùng miệng.
Liệu vấn đề này có thể làm ta suy nghĩ được chăng? Được lắm chứ. Chúng ta kề cốc hoặc thìa nước vào môi và “húp” chất lỏng chứa trong đó vào miệng. Ấy chính cái hành động “húp” giản dị mà ta quá quen thuộc đó lại cần phải giải thích.

Quả vậy, tại sao chất lỏng lại chảy vào miệng ta? Cái gì lôi kéo nó vậy? Và đây là nguyên nhân: Khi uống, ta làm giãn g ngực ra và nhờ đó làm loãng không khí trong miệng. Dưới tác dụng của áp suất không khí ở bên ngoài, chất lỏng có khuynh hướng chạy vào khoảng không gian có áp suất nhỏ hơn, và thế là chảy vào miệng ta.

Hiện tượng ở đây cũng giống như hiện tượng sẽ xảy ra với chất lỏng trong các bình thông nhau. Nếu như ta làm loãng không khí ở bên trên một bình, dưới tác dụng của áp suất khí quyển, chất lỏng sẽ dâng cao lên trong bình đó. Ngược lại, nếu ngậm chặt môi vào cổ một cái chai thì dù cố gắng thế nào bạn cũng không thể “húp” được nước từ chai vào miệng, vì áp suất không khí trong miệng và trên mặt nước là như nhau.

Vậy, nói chặt chẽ ra thì chúng ta không những uống bằng miệng mà còn bằng cả phổi nữa, vì sự giãn nở của phổi chính là nguyên nhân làm cho chất lỏng chảy vào miệng.

10- Nếu như không có ma sát?

Nhờ có ma sát mà mọi vật ở yên chỗ của nó.
Nhờ có ma sát mà ta có thể ngồi, đi lại và làm việc được dễ dàng; nhờ nó mà sách vở bút mực nằm yên trên mặt bàn, mà cái bàn không bị trượt trên sàn nhà, mặc dù người ta không đặt nó vào sát tường, và quản bút không tuột ra khỏi các ngón tay…

Ma sát là một hiện tượng phổ biến đến nỗi chúng ta ít khi để ý tới tác dụng hữu ích của nó, mà thường cho nó là một hiện tượng tự nhiên phải thế.

Nhờ ma sát mà các vật thêm vững vàng. Người thợ mộc ghép sàn nhà cho phẳng để khi người ta đặt bàn ghế ở đâu là chúng đứng yên ở đấy. Cốc, đĩa, thìa đặt trên bàn ăn đều được nằm yên mà ta không cần phải quan tâm đặc biệt đến chúng, nếu như không gặp trường hợp có sự chòng chành bất thường như trên tàu thuỷ.

Thử tưởng tượng rằng có thể trừ bỏ được ma sát hoàn toàn thì sẽ không có một vật thể nào, dù là to như một tảng đá hay nhỏ như một hạt cát có thể tựa vững lên nhau được. Tất cả sẽ bị trượt đi và lăn mãi cho đến khi chúng đạt tới một vị trí thật thăng bằng đối với nhau mới thôi. Nếu như không có ma sát thì trái đất của chúng ta sẽ thành một quả cầu nhẵn nhụi giống như một quả cầu bằng nước.

Có thể nói thêm rằng nếu không có ma sát thì các đinh ốc sẽ rơi tuột ra khỏi tường, chẳng đồ vật nào giữ chặt được ở trong tay, chẳng cơn lốc nào dứt nổi, chẳng âm thanh nào tắt mà sẽ vang mãi thành một tiếng vọng bất tận, vì đã phản xạ không chút yếu đi vào các bức tường. Mỗi lần đi trên băng, ta lại có một bài học cụ thể để củng cố lòng tin của mình vào tầm quan trọng đặc biệt của ma sát. Đi trên đường phố có băng phủ hay trên đường đất thịt sau khi trời mưa, ta cảm thấy mình thật bất lực và lúc nào cũng như muốn ngã…

Tuy nhiên, trong kỹ thuật người ta có thể lợi dụng sự ma sát rất bé để phục vụ những việc có ích. Chẳng hạn những chiếc xe trượt trên mặt băng, hay những con đường băng dùng để vận chuyển gỗ từ chỗ khai thác đến chỗ đặt đường sắt, hoặc đến những bến sông để thả bè. Trên những đường “ray” băng trơn nhẵn, hai con ngựa đã kéo nổi 70 tấn gỗ.

11- Sản xuất băng khô từ than như thế nào?

Băng khô.
Tại các lò công nhiệp, người ta làm sạch khói than, rồi dùng kiềm hút sạch khí CO2. Sau đó, họ đun nóng để tách khí ra khỏi dung dịch kiềm, rồi nén dưới áp suất 70 atmosphere để nó chuyển sang dạng lỏng… Sau đó, người ta lại để nó bay hơi dưới áp suất thấp. Kết quả, họ thu được CO2 rắn, đó chính là băng khô.

Khí carbonic lỏng được chứa trong các bình dày và được chuyển tới công xưởng sản xuất đồ uống có ga và những công xưởng nào cần dùng tới nó. Còn băng khô, tức CO2 rắn, nhìn bề ngoài giống như các cục tuyết nén chặt, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như bảo quản thức ăn hoặc cứu hỏa.

Nhiệt độ của băng khô rất thấp (-78 độ C), nhưng nếu cầm nó vào tay, người ta vẫn không có cảm giác quá lạnh, lý do là khi ta tiếp xúc, khí CO2 bay ra ngăn cách tay ta và băng khô. Chỉ khi nắm chặt cục băng khô thì ta mới bị tê cóng. Danh từ băng khô diễn đạt chủ yếu tính chất vật lý của nó. Bản thân băng khô không bao giờ bị ẩm và làm ướt bất kỳ vật nào xung quanh. Gặp nóng là lập tức nó biến thành khí, không qua trạng thái lỏng. Đặc tính đó của băng khô có thể được sử dụng để bảo quản thực phẩm cực tốt, bởi khí CO2 bám trên bề mặt còn có tác dụng ức chế khả năng phát triển của vi sinh vật. Cuối cùng, CO2 rắn còn là chất cứu hỏa tin cậy. Chỉ cần ném một miếng băng khô vào đám lửa đang cháy là có thể dập tắt nó.

12- Nước đá bỏng tay

Nước có thể đóng băng ở nhiệt độ khác nhau.
Khi nói đến nước đá, có lẽ bạn luôn nghĩ rằng nó phải rất lạnh, vậy làm sao có thể bỏng tay được. Tuy nhiên thực tế, ở điều kiện áp suất cao, nước có thể đóng băng ở nhiệt độ… 76 độ C, tức là nếu bạn chạm vào, bạn sẽ bị bỏng liền.

Các nhà khoa học Anh là những người đầu tiên tạo ra nước đá nhiệt độ cao khi nén nó ở một thiết bị làm bằng thép dày. Khi áp suất tăng lên 20.600 atmosphere, nước đã đóng băng ở nhiệt độ trên 75 độ C, tức là có thể làm bỏng. Các nhà khoa học gọi loại nước đá nóng này là “băng thứ 5”. Nói chung áp suất càng cao thì nước đá càng nóng.

Điều đáng nói là nước đá nóng đặc hơn nước đá thường, thậm chí còn đặc hơn cả nước lỏng nữa. Tỷ khối của nước đá ở nhiệt độ 76 độ C là 1,05. Như vậy khi bỏ nó vào nước, nó sẽ chìm chứ không nổi như đá bình thường.

13- Trái bom dưa hấu

Trong cuộc đua ô tô chặng Saint Petersburg – Tiphliso năm 1924, nông dân vùng Kavkaz đã hoan hô những chiếc ô tô đi ngang qua bằng cách ném cho các nhà thể thao nào là lê, táo, dưa hấu, dưa gang. Kết quả là chúng làm bẹp, làm thủng vỡ cả hòm xe, còn những quả táo thì làm các tay đua bị thương nặng.

Nguyên nhân thật dễ hiểu: vận tốc riêng của ô tô đã cộng thêm vào với vận tốc của quả dưa hay quả táo ném tới và biến chúng thành những viên đạn nguy hiểm, có tác dụng phá hoại. Ta tính không khó khăn lắm là một viên đạn có khối lượng 10 g cũng có năng lượng chuyển động như một quả dưa 4 kg ném vào chiếc ô tô đang chạy với vận tốc 120 km.

Tuy vậy, không thể so sánh tác dụng đâm thủng của quả dưa trong những điều kiện như thế với tác dụng của viên đạn được, vì quả dưa không cứng như viên đạn.

Khi bay nhanh ở những lớp khí quyển cao (tầng bình lưu) các máy bay cũng có vận tốc vào khoảng 3.000 km mỗi giờ, nghĩa là bằng vận tốc của viên đạn, thì người phi công sẽ đương đầu với những hiện tượng giống như hiện tượng vừa nói trên. Mỗi một vật rơi vào chiếc máy bay đang bay nhanh như thế sẽ trở thành một viên đạn phá hoại. Gặp một vốc đạn lớn chỉ đơn giản thả từ một chiếc máy bay khác sang, dù máy bay đó không bay ngược chiều, cũng y như bị một khẩu súng máy bắn trúng: những viên đạn ném tới sẽ đập vào máy bay mạnh chẳng kém những viên đạn súng máy. Ngược lại, nếu viên đạn bay đuổi theo máy bay có vận tốc như nó thì sẽ vô hại.

14- Cái nào nặng hơn?

Trên đĩa cân đặt một thùng nước đầy tới miệng. Trên đĩa cân bên kia cũng có một thùng nước giống như thế, cũng đầy nước tới miệng, nhưng có một khúc gỗ nổi lên trên. Hỏi thùng nào nặng hơn?

Câu đố này được đặt ra cho nhiều người, và có nhiều câu trả lời khác nhau. Người thì đáp thùng nước có khúc gỗ nổi lên mặt phải nặng hơn, vì “ngoài nước ra, trong thùng còn cả gỗ”. Kẻ bảo ngược lại, thùng nước kia nặng hơn vì “nước nặng hơn gỗ’.

Câu trả lời đúng là cả hai thùng nặng như nhau. Trong thùng thứ hai đúng là có ít nước hơn thùng thứ nhất, vì khúc gỗ nổi có đẩy bớt một ít nước ra ngoài. Nhưng theo định luật về sự nổi thì với mọi vật nổi, phần chìm của nó sẽ chiếm chỗ của một phần nước có trọng lượng đúng bằng trọng lượng của vật đó. Vì thế mà cân giữ nguyên thế thăng bằng.

Bây giờ bạn hãy thử giải đáp câu đố khác. Đặt lên đĩa cân một cốc nước và để bên cạnh nó một quả cân. Sau khi đã làm đĩa thăng bằng, bỏ quả cân vào cốc nước. Hỏi cân sẽ như thế nào?

Theo định luật Archimède, quả cân ở trong nước sẽ nhẹ hơn khi để bên ngoài. Bạn có thể tưởng tượng rằng đĩa cân có đặt cốc sẽ vồng lên. Nhưng thực ra cân vẫn thăng bằng. Đó là vì quả cân khi bỏ vào cốc nước đã chiếm chỗ của một phần nước, làm cho nước dâng cao hơn mực nước kia. Vì thế lực ép lên đáy cốc tăng lên, khiến cho đáy cốc phải chịu thêm một lực phụ, bằng chỗ “hao hụt” trọng lượng của quả cân.

15- Câu đố về hai bình cà phê

Trước mắt bạn có hai bình cà phê đáy rộng như nhau, nhưng một cái cao và một cái thấp. Hỏi cái nào đựng nhiều hơn?

Chắc rằng nếu không suy nghĩ thì nhiều người sẽ tưởng rằng cái bình cao đựng được nhiều hơn cái bình thấp. Song thử đổ nước vào bình cao, bạn sẽ chỉ đổ được tới ngang mực miệng vòi của nó mà thôi, đổ thêm nữa thì nước sẽ tràn ra ngoài. Và vì miệng vòi của cả hai bình cà phê đều cao như nhau, nên bình thấp cũng đựng được nhiều như chiếc bình cao có vòi ngắn.

Điều đó cũng dễ hiểu: trong bình và trong vòi cũng giống như mọi bình thông nhau khác, chất lỏng phải ở cùng một mức, mặc dầu chỗ nước ở trong vòi nhẹ cân hơn chỗ nước đựng trong bình. Cho nên nếu vòi không đủ cao thì bạn không thể đổ đầy nước tới nắp bình được: nước sẽ trào ra ngoài. Thường thường, người ta làm vòi ấm có miệng cao hơn miệng bình để cho có hơi nghiêng bình đi một chút thì nước đựng bên trong cũng không chảy ra ngoài.

16- Người ta đào đường ngầm như thế nào?

Đào hầm theo hình trên cùng là tiện lợi nhất.
Bạn hãy xem hình bên vẽ ba kiểu đường ngầm và thử cho biết kiểu nào là kiểu tiện lợi nhất. Không phải kiểu ở giữa, cũng không phải kiểu dưới cùng, mà chính là kiểu trên cùng.

Nhiều đường ngầm được đào như ở hình trên cùng, nghĩa là đào theo những đường tiếp tuyến với vỏ quả đất tại những điểm ngoài cùng của đường ngầm. Một kiến trúc kiểu đó, trước hết hơi chạy lên cao, sau đó đi xuống thấp. Nó được coi là loại đường ngầm tiện lợi nhất, vì nước sẽ không ứ lại bên trong mà tự động chạy ra phía miệng.

Hình ở giữa, đường ngầm nằm ngang, tức là được đào theo một đường cung mà ở bất kì điểm nào nó cũng tạo thành góc vuông với phương của đường dây dọi (Thực ra, đường này có độ cong trùng hợp với độ cong của bề mặt trái đất). Nước sẽ không thoát ra ngoài được vì tại điểm nào trên đường đó nước đều ở trạng thái cân bằng. Khi con đường loại này kéo dài quá 15 km thì đứng ở đầu đường này không thể nhìn tới đầu đường kia được: Tầm nhìn của mắt ta đã bị cái trần của đường ngầm che khuất, vì điểm giữa của con đường cao hơn các điểm ở hai đầu đến 4 mét.

Hình sau cùng, nếu đào đường ngầm theo đường thẳng thì hai đầu sẽ cao hơn so với khoảng giữa. Nước không những không thoát ra khỏi đường được, mà trái lại còn đọng lại ở giữa là nơi thấp nhất của đường. Song đứng ở đầu này, ta lại có thể nhìn thấy đầu kia.

17- Cuộc sống trong con mắt người cận thị

“Ở trường trung học, tôi bị cấm chỉ không được đeo kính, nên thấy cô gái nào cũng đẹp cả. Nhưng sau khi tốt nghiệp, thì tôi thất vọng biết bao!”, nhà thơ Denvich, bạn của nhà thơ Puskin đã có lần viết như thế. Denvich gặp phải tình huống trớ trêu này là do đôi mắt cận đã khiến ông “nhìn gà hóa hóa quốc”.

Trước tiên, những người cận thị (dĩ nhiên, chỉ khi không đeo kính) không bao giờ nhìn thấy rõ rệt những vành bao ngoài của đồ vật. Đối với họ, tất cả mọi vật đều có hình dáng hết sức lờ mờ. Một người có thị giác bình thường khi có thể phân biệt được từng lá, cành cây riêng biệt trên nền trời. Còn người cận thị thì chỉ nhìn thấy một khối màu xanh không có hình thù rõ rệt, mờ mờ ảo ảo, như một hình kỳ lạ vậy.

Những người cận thị thấy bộ mặt người khác như trẻ trung hơn và quyến rũ hơn, đơn giản vì họ không thể nhìn thấy những nếp nhăn và những vết sẹo nhỏ. Đối với họ, màu da đỏ thô trở thành màu hồng mịn màng.

Đôi khi chúng ta rất ngạc nhiên khi thấy người nào đó đoán tuổi người khác sai đến 10 tuổi. Chúng ta lấy làm lạ về óc thẩm mỹ kỳ quặc của anh ta, thậm trí còn thấy anh ta thiếu lịch sự, trố mắt nhìn trừng trừng vào mình. Đó là vì khi không đeo kính mà nói chuyện, anh ta hoàn toàn không nhìn thấy bạn. Trong mọi trường hợp anh ta đều không nhìn thấy những điều mà bạn cầm chắc là anh ta phải thấy. Bởi vì, trước mắt anh ta là một hình ảnh mơ hồ, không có gì đặc biệt, do đó cách một giờ sau gặp lại nhau, anh ta đã không nhận ra bạn. Những người cận thị nhận ra người khác phần lớn dựa vào giọng nói chứ không phải căn cứ vào hình dáng bên ngoài.

Ban đêm, đối với người cận thị, hết thảy những vật sáng như đèn đường phố, đèn trong nhà… đều trở nên lớn vô cùng, những bóng đen mờ ảo không có hình dáng. Họ không nhận ra những chiếc ô tô phóng lại gần mà chỉ thấy hai vùng sáng i lòa (hai đèn pha ô tô), đằng sau là một khối tối om.

Bầu trời đêm đối với người cận thị cũng khác xa so với người thường. Họ chỉ có thể thấy những ngôi sao lớn nhất mà thôi. Do đó, đáng lẽ là hàng nghìn ngôi sao thì họ chỉ thấy được độ mấy trăm. Qua mắt họ, những ngôi sao ấy giống như những quả cầu sáng khổng lồ, còn mặt trăng rất to và gần, trăng lưỡi liềm thì là một hình dạng rất phức tạp, kỳ quái.

Nguyên nhân của tất cả những hiện tượng trên là do sai sót trong cấu tạo của mắt người cận thị. Mắt họ quá sâu, đến nỗi những tia sáng mà nó thu được phát ra từ mỗi điểm trên vật thể không sao hội tụ được ở đúng võng mạc, mà lại hội tụ trước võng mạc. Do đó, tia sáng khi rọi tới võng mạc ở đáy mắt thì đã phân tán mất rồi, nên chỉ tạo thành một ảnh rất lờ mờ trên võng mạc.

18- Có dễ dàng bóp vỡ được vỏ trứng không?

Bạn có thể nghĩ rằng việc ấy quả là trò trẻ con! Ấy chớ, mặc dù mỏng là thế nhưng vỏ của một quả trứng thông thường cũng không phải là quá mảnh dẻ. Muốn bóp vỡ bằng cách ép hai đầu nhọn của nó vào lòng bàn tay, bạn phải “vận công” tương đối đấy.

Chính hình dáng lồi của vỏ trứng đã khiến cho nó vững bền một cách lạ thường như thế. Nguyên nhân của hiện tượng cũng giống như tính vững bền của các loại cửa cuốn hình vòm dưới đây:

Trong hình là một cái cửa sổ bằng đá xây cuốn như thế. Sức nặng S (tức là trọng lượng của các phần nằm bên trên của bức tường) tỳ lên viên đá hình cái nêm chèn ở giữa vòm cuốn sẽ đè xuống dưới một lực, biểu diễn bằng mũi tên A trên hình vẽ. Nhưng hình dạng cái nêm của viên đá làm cho nó không thể tụt xuống dưới được mà chỉ có thể đè lên những viên đá bên cạnh thôi. Ở đây lực A có thể phân tích làm hai lực B và C, theo quy tắc hình bình hành. Các lực này cân bằng với sức cản của các viên đá nằm dính sát nhau, rồi đến lượt chúng mỗi viên đá lại chịu sự nén chặt của các viên đá xung quanh. Như vậy lực từ bên ngoài đè lên cái cửa xây cuốn sẽ không thể làm cửa bị hỏng được.

Thế nhưng, lực tác dụng từ bên trong ra lại có thể làm đổ cái cửa này tương đối dễ dàng. Lý do cũng dễ hiểu: hình dạng cái nêm của các viên đá chỉ giữ không cho chúng tụt xuống, chứ chẳng hề ngăn chúng đi lên chút nào.

Vỏ quả trứng chẳng qua cũng là một cái vòm cửa nói trên, chỉ có điều nó được cấu tạo bởi một lớp liền nhau. Khi có sức ép từ bên ngoài vào thì nó không dễ bị vỡ tan ra như ta tưởng. Có thể đặt một chiếc ghế khá nặng dựa chân lên 4 quả trứng sống mà chúng vẫn không bị vỡ. Bây giờ chắc bạn đã hiểu tại sao thân gà mẹ cũng khá nặng, mà khi xéo lên ổ không làm vỡ trứng, trong khi chú gà con yếu ớt lúc nở ra lại có thể dùng mỏ phá tung dễ dàng lớp vỏ bao bọc bên ngoài.

Tính bền vững kỳ lạ của các bóng đèn điện – những thứ thoạt như rất mảnh dẻ và giòn – cũng được cắt nghĩa như tính bền vững của vỏ trứng. Sự bền vững của chúng còn làm ta ngạc nhiên hơn nữa, nếu bạn nhớ rằng có loại bóng đèn bên trong là khoảng chân không tuyệt đối, không một tí gì có thể chống lại áp suất của không khí bên ngoài. Thế mà độ lớn của áp suất không khí trên một bóng đèn điện lại chẳng phải là nhỏ: một bóng đèn có đường kính 10 cm phải chịu một lực trên 700 N (bằng trọng lượng của một người) ép vào từ mọi phía. Bóng đèn chân không còn “cao thủ” hơn, nó có thể chịu được một áp suất lớn hơn áp suất trên 2,5 lần.

19- Cuộc du lịch rẻ tiền nhất!

Vào thế kỷ 17, nhà văn Pháp Xirano De Becgiorac viết một cuốn tiểu thuyết khôi hài nhan đề “Sử ký của những nước trên mặt trăng” (1652), trong đó có mô tả một lần, ông ta làm thí nghiệm vật lý, rồi chẳng biết vì sao bay bổng lên trời. Sau vài tiếng, hạ xuống đất, ông ngạc nhiên thấy mình đã ở Canada…

Nhà văn Pháp này cho rằng cuộc phi hành ngoài sức tưởng tượng vượt Đại Tây Dương là hoàn toàn tự nhiên. Lý do ông đưa ra là trong khi nhà du hành rời khỏi mặt đất thì hành tinh chúng ta vẫn tiếp tục quay từ tây sang đông như trước. Cho nên khi hạ xuống, dưới chân ông ta không phải là nước Pháp nữa mà đã là lục địa châu Mỹ.

Quả là một phương pháp du lịch rẻ tiền và đơn giản! Các bạn xem, chỉ cần bay lên bầu trời trên trái đất, rồi dừng lại trong không trung vài phút thôi, là có thể hạ xuống một nơi xa lạ về phía tây. Nhưng tiếc thay, cái phương pháp kỳ dị đó chỉ là chuyện hoang đường.

Một là, sau khi chúng ta lên tới không trung thì thật ra chúng ta vẫn ràng buộc với cái vỏ khí của trái đất, chúng ta lơ lửng trong khí quyển mà lớp khí quyển này lại quay theo trái đất. Không khí (nói đúng hơn là các lớp không khí đặc ở dưới) cùng quay với trái đất và mang theo hết thảy những gì tồn tại trong nó như mây, máy bay, chim c và côn trùng… Nếu như không khí không chuyển động cùng với trái đất, thì đứng trên trái đất chúng ta sẽ luôn luôn thấy có gió to thổi mạnh đến nỗi bão táp so với nó chỉ như một cơn gió thoảng. Bởi vì, các bạn nên chú ý rằng, chúng ta đứng yên để cho không khí đi qua hoặc không khí đứng yên và chúng ta chuyển động trong không khí thì cũng hoàn toàn giống nhau. Trong cả hai trường hợp này, chúng ta đều cảm thấy có gió to. Người đi xe mô tô phóng với vận tốc 100 km/h thì mặc dù trời yên gió tạnh ta cũng vẫn thấy gió thổi ngược rất mạnh.

Thứ hai là, hãy cứ cho rằng chúng ta có thể lên tới lớp khí quyển cao nhất, hoặc trái đất của chúng ta không có lớp khí quyển này đi nữa, thì lúc ấy cái phương pháp du lịch rẻ tiền kia cũng chẳng phải dễ dàng thực hiện được. Bởi vì, sau khi chúng ta rời khỏi bề mặt của trái đất đang quay, do quán tính, chúng ta vẫn tiếp tục chuyển động với vận tốc cũ, hoặc nói một cách khác, chúng ta vẫn tiếp tục chuyển động với vận tốc chuyển động của trái đất ở phía dưới. Cho nên, khi hạ xuống, chúng ta lại rơi đúng vào nơi xuất phát, giống như khi ta nhảy lên ở bên trong 1 toa xe lửa đang chạy ta đã lại rơi xuống đúng chỗ vậy. Tuy quán tính có làm cho chúng ta chuyển động thẳng (theo tiếp tuyến), còn trái đất ở dưới chân chúng ta lại chuyển động theo một đường hình cung, nhưng trong khoảng thời gian rất ngắn thì điều đó không hề gì cả.

20- Muốn làm lạnh vật, đặt trên hay dưới nước đá?

Muốn đun nước, chúng ta đặt ấm nước lên trên ngọn lửa, chứ không đặt cạnh ngọn lửa. Vậy muốn làm lạnh một vật bằng nước đá thì nên làm thế nào? Do thói quen, nhiều người cứ đặt vật lên trên nước đá. Làm thế, chỉ là công cốc mà thôi…

Khi đun nóng nước, chúng ta đặt ấm nước lên trên ngọn lửa là hoàn toàn đúng, bởi vì không khí được ngọn lửa đun nóng sẽ nhẹ hơn, bốc lên khắp xung quanh ấm. Thành ra, theo cách này chúng ta đã sử dụng nhiệt lượng một cách có lợi nhất.

Còn khi làm lạnh vật bằng nước đá, do thói quen, nhiều người cứ đặt vật lên trên, chẳng hạn đặt bình sữa lên trên nước đá. Làm như thế không hợp cách, bởi vì không khí ở bên trên nước đá, sau khi lạnh, sẽ chìm xuống và được thay thế bằng không khí nóng xung quanh. Từ đó ta suy ra một kết luận là: nếu muốn làm lạnh thức ăn hoặc đồ uống thì không nên đặt nó ở trên nước đá mà đặt ở dưới nước đá.

Vì nếu đặt nồi nước lên trên, thì chỉ có lớp nước thấp nhất lạnh đi thôi, còn những phần trên vẫn được bao bọc bởi không khí không lạnh. Ngược lại, nếu đặt cục nước đá lên trên vung nồi, thì nước trong nồi sẽ lạnh đi rất nhanh, bởi vì, lớp nước ở trên bị lạnh, sẽ chìm xuống và nước nóng hơn ở dưới sẽ lên thay thế, cứ như vậy cho đến khi toàn bộ nước trong nồi sẽ lạnh hết mới thôi (khi đó, nước nguyên chất không lạnh xuống đến 0 độ mà chỉ lạnh đến 4 độ C, ở nhiệt độ này nước có tỷ khối lớn nhất). Mặt khác, không khí lạnh ở xung quanh cục nước đá cũng sẽ đi xuống và bao vây lấy nồi nước.

Chuyên mục
Học vui

Trọng tâm môn ngữ văn

Trọng tâm ôn thi đại học môn ngữ văn cho các bạn học sinh tham khảo. Mong rằng sẽ giúp các bạn trong thời gian luyện thi dh sắp tới

– Phần chung cho tất cả thí sinh (5,0 điểm)
Câu 1 (2, 0 điểm): Tái hiện kiến thức về giai đoạn văn học, tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam
– Khái quát văn hoc Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945
– Hai đứa trẻ- Thạch Lam
– Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân
– Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ)- Vũ Trọng Phụng
– Chí phèo (trích)- Nam Cao
– Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô)- Nguyễn Huy Tưởng
– Vội vàng- Xuân Diệu
– Đây thôn Vũ Dạ- Hàn Mặc Tử
– Tràng Giang –Huy Cận
– Chiều tối- Hồ Chủ Tịch
– Từ ấy- Tố Hữu
– Một thời đại trong thi ca (trích)- Hoài Thanh và Hoài Chân
– Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đén hết thế kỷ XX
– Tuyên ngôn độc lập và tác giả Hồ Chí Minh
– Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc- Phạm Văn Đồng
– Việt Bắc (trích) và tác giả Tố Hữu
– Đất nước (trích Mặt đường khát vọng)- Nguyễn Khoa Điềm
– Sóng –Xuân Quỳnh
– Đàn ghi ta của Lor-ca- Thanh Thảo
– Người lái đò trên Sông Đà (trích)-Nguyễn Tuân
– Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích)- Hoàng Phủ Ngọc Tường
– Vợ chồng A Phủ (trích)- Tô Hoài
– Vợ nhặt – Kim Lân
– Rừng xà nu (trích)- Nguyễn Trung Thành
– Những đứa con trong gia đình (trích)- Nguyễn Thi
– Chiếc thuyền ngoài xa (trích)- Nguyễn Minh Châu
– Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích)- Lưu Quang Vũ
Trọng Tâm Đề Thi Đại Học Năm 2013 Cho (khối C,D)
Câu 2 (3,0 điểm): Vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết bài nghị luận xã hội ngắn (khoảng 600 từ)
-Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
-Nghị luận về một hiện tượng đời sống
II- Phần riêng (5,0 điểm): Vận dụng khả năng đọc- hiểu và kiến thức văn học để viết bài nghị luận văn học
(Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu 3a hoặc 3b)
Câu 3a: Theo chương trình chuẩn (5,0 điểm)
– Hai đứa trẻ- Thạch Lam
– Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân
– Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ)- Vũ Trọng Phụng
– Chí phèo (trích)- Nam Cao
– Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô)- Nguyễn Huy Tưởng
– Vội vàng- Xuân Diệu
– Đây thôn Vũ Dạ- Hàn Mặc Tử
– Tràng Giang –Huy Cận
– Chiều tối- Hồ Chí Minh
– Từ ấy- Tố Hữu
– Một thời đại trong thi ca (trích)- Hoài Thanh và Hoài Chân
– Tuyên ngôn độc lập và tác giả Hồ Chí Minh
– Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc- Phạm Văn Đồng
– Tây Tiến- Quang Dũng
– Việt Bắc (trích) và tác giả Tố Hữu
– Đất nước (trích Mặt đường khát vọng)- Nguyễn Khoa Điềm
– Sóng –Xuân Quỳnh
– Đàn ghi ta của Lor- ca-Thanh Thảo
– Người lái đò trên Sông Đà (trích)-Nguyễn Tuân
– Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích)- Hoàng Phủ Ngọc Tường
– Vợ chồng A Phủ (trích)- Tô Hoài
– Vợ nhặt – Kim Lân
– Rừng xà nu (trích)- Nguyễn Trung Thành
– Những đứa con trong gia đình (trích)- Nguyễn Thi
– Chiếc thuyền ngoài xa (trích)- Nguyễn Minh Châu
– Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích)- Lưu Quang Vũ
Câu 3b: Theo chương trình nâng cao (5,0 điểm)
– Hai đứa trẻ- Thạch Lam
– Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân
– Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ)- Vũ Trọng Phụng
– Chí phèo (trích)- Nam Cao
– Đời thừa (trích)- Nam Cao
– Nam Cao
– Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô)- Nguyễn Huy Tưởng
– Vội vàng- Xuân Diệu
– Xuân Diệu
– Đây thôn Vũ Dạ- Hàn Mặc Tử
– Tràng Giang –Huy Cận
– Tương tư- Nguyễn Bính
– Nhật ký trong tù- Hồ Chí Minh
– Chiều tối- Hồ Chí Minh
– Lai tân- Hồ Chí Minh
– Từ ấy- Tố Hữu
– Một thời đại trong thi ca (trích)- Hoài Thanh và Hoài Chân
– Tuyên ngôn độc lập và tác giả Hồ Chí Minh
– Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh
– Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc- Phạm Văn Đồng
– Tây Tiến- Quang Dũng
– Việt Bắc (trích) và tác giả Tố Hữu
– Tố Hữu
– Tiếng hát con tàu-Chế Lan Viên
– Đất nước (trích Mặt đường khát vọng)- Nguyễn Khoa Điềm
– Sóng –Xuân Quỳnh
– Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo
– Người lái đò trên Sông Đà (trích)-Nguyễn Tuân
– Nguyễn Tuân
– Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích)- Hoàng Phủ Ngọc Tường
– Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích)- Lưu Quang Vũ
– Vợ chồng A Phủ (trích)- Tô Hoài
– Vợ nhặt – Kim Lân
– Những đứa con trong gia đình (trích)- Nguyễn Thi
– Rừng xà nu (trích)- Nguyễn Trung Thành
– Một người Hà Nội- Nguyễn Khải
– Chiếc thuyền ngoài xa (trích)- Nguyễn Minh Châu

Chuyên mục
Học vui

Thơ vui về dãy điện hóa

Đã có nhiều người cho rằng học Hóa học rất khô khan, khó nhớ. Nhưng mình thấy nó không như vậy, hay tại vì mình yêu Hóa rồi. Giờ đây chúng ta có thể “thơ hóa” hóa học để giúp cho Hóa học bớt khô khan, lãng mạn hơn và rồi các bạn sẽ cảm thấy yêu thích môn Hóa. Đây cũng có thể coi như là 1 cách giúp các bạn dễ dàng hơn trong ôn thi đại học
Dãy điện hóa O sau khử trước
Phản ứng theo quy tắc anpha,
Nhưng cần phải hiểu sâu xa
Trước sau ý nghĩa mới là thành công.

Kali, Can, Nát tiên phong
Ma, Nhôm, Măng, Kẽm tiếp không chịu hèn

Crom, Sắt đến Niken,
Thiếc, Chì dẫu chậm cũng liền theo chân.Hidro, Bạc, Đồng, Thủy ngân,
Bạch kim, Vàng nữa chịu phần đứng sauBa kim loại mạnh đứng đầu,
Vào dung dịch muối nước đâu “hủy liền”
Khí bay, muối lại gặp kiềm,
Đổi trao phản ứng là quyền chúng thôi.

Các kim loại khác dễ rồi,
Vào dung dịch muối trước thời đẩy sau.
Với axit nhớ bảo nhau:
Khử được hát cộng (H+) phải đâu dễ dàng

Từ Đồng cho đến cuối hàng,
Sau hidro đấy, chẳng tan chút nào.

Vài lời bàn bạc đổi trao,
Vun cây “Vườn hóa” vui nào vui hơn.

Chuyên mục
Học vui

Sét được hình thành như thế nào?

Sét là hiện tượng tự nhiên thường gặp khi trời mưa. Vậy sét được hình thành như thế nào và có cách nào để tránh sét?
Sét (hay còn gọi là sự phóng điện giông) là một nguồn điện từ mạnh phổ biến nhất xảy ra trong tự nhiên. Nguyên nhân làm xuất hiện sét là do sự hình thành các điện tích khối lớn. Nguồn sét chính là các đám mây mưa giông mang điện tích dương và âm ở các phần trên và dưới của đám mây, chúng tạo ra xung quanh đám mây này một điện trường có cường độ lớn.
Sự hình thành các điện tích khối với các cực tính khác nhau trong đám mây (hay còn gọi là sự phân cực của đám mây) có liên quan đến sự ngưng tụ do làm lạnh hơi nước của luồng không khí nóng đi lên, tạo ra các ion dương và âm (các trung tâm ngưng tụ) và liên quan đến cả sự phân chia các giọt nước mang điện trong đám mây dưới tác dụng mạnh của luồng không khí nóng đi lên. Trên mặt đất bên dưới đám mây sẽ tập trung các điện tích trái dấu với ion tập trung bến dưới đám mây.

Nguyên lý corona là hiện tượng dây dẫn bằng kim loại nhọn được nối đất đặt trong khu vực có điện trường mạnh sẽ có hiện tượng các điện tích bị bứt ra ngoại không gian từ điểm nhọn của dây dẫn kim loại được nối đất.

Trong quá trình tích luỹ các điện tích có phân cực khác nhau, một điện trường có cường độ luôn được gia tăng hình thành xung quanh đám mây. Khi Gradient điện thế ở một điểm bất kỳ của đám mây đạt giá trị tới hạn về tính chất cách điện của không khí (với áp lực khí quyển bình thường, khoảng 3.106 V/m) ở đó xảy ra sự đánh xuyên hay sét tiên đạo.

Quá trình tiên đạo được hình thành từng bước từ đám mây hướng xuống mặt đất. Đồng thời khu vực bên dưới đám mây sẽ có hiện tượng tiên đạo ngược từ các vật bằng kim loại nhọn được nối đất do hiện tượng corona tạo ra. Tiên đạo đi xuống và tiên đạo đi lên sẽ gặp nhau sẽ kết thúc quá trình tiên đạo. Tia tiên đạo chính là kênh dẫn điện tích từ đám mây xuống mặt đất hoặc từ mặt đất lên đám mây. Việc làm tăng quá trình kích dẫn tia tiên đạo từ dưới đất đi lên đúng thời điểm tia tiên đạo sét đánh xuống thông qua đầu kim thu sét nhưng lại phải cực tiểu hóa hiệu ứng corona đó chính là mục tiêu, phương pháp để các nhà chống sét thiết kế chế tạo kim thu sét tia tiên đạo hay thu sét phóng điện sớm một cách hiệu quả.
Chuyên mục
Học vui

Phương pháp làm bài môn văn đại học khối c

Bí quyết đạt điểm cao môn Văn được thầy Phạm Hữu Cường, giảng viên môn Văn, Trường đại học Sư phạm Hà Nội chia sẻ.

“Để đạt điểm cao môn Văn, khi nhận đề thi, thí sinh nên đọc thật kỹ đề bài thi, chú ý đến các từ ngữ quan trọng trong đề để từ đó xác định đúng yêu cầu, nội dung trong đề bài. Khi làm bài, các em nên làm đủ 3 câu trong đề, bởi nội dung dù sơ sài một chút thí sinh vẫn được điểm cao hơn nhiều so với việc các em bỏ bớt đi một câu và tập trung làm quá chi tiết những câu khác”.

Thầy Cường cho biết, cái khó của đề thi đại học môn Văn là ở chỗ thí sinh phải giải quyết được đầy đủ, sâu sắc yêu cầu của đề trong một thời gian hạn hẹp. Vì vậy khi làm bài thi, thí sinh nên chú ý đến việc phân bổ thời gian hợp lý và dành ít phút viết thật nhanh ý chính ra nháp để tránh quên ý khi làm bài.

Lưu ý khi làm bài

Câu 1: Tái hiện kiến thức về tác giả, tác phẩm của Văn học Việt Nam.

Theo thầy Cường, đối với dạng câu hỏi này, thí sinh nên làm trong khoảng thời gian từ 20 đến 30 phút và viết khoảng một mặt giấy thi, không nên viết quá dài.

Phần nội dung thí sinh chia thành 4 ý, tương đương với mỗi ý từ 8 đến 10 dòng.

Ví dụ: Đề thi hỏi: Trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam đặc biệt quan tâm tới hai loại ánh sáng nào? Hai loại ánh sáng ấy có ý nghĩa như thế nào trong việc thể hiện diễn biến, tâm trạng của Liên và chủ đề tư tưởng của tác phẩm.

Trong câu này, thí sinh phải nêu được hai loại ánh sáng tác giả đặc biệt quan tâm chính là ánh sáng của phố huyện và ánh sáng của chuyến tàu đêm qua phố huyện.

Ánh sáng của phố huyện nhỏ bé, leo lét, mong manh, tội nghiệp bị bóng tối bủa vây cầm tù không thoát ra được (trong đó có ánh sáng ngọn đèn chị Tí).

Ánh sáng của chuyến tàu đêm mạnh mẽ, lộng lẫy, xuyên qua màn đêm, đẩy lùi bóng tối.

Sau khi thí sinh làm xong hai ý đó, mỗi ý từ 8 đến 10 dòng, thí sinh phải nêu được hai loại ánh sáng ấy có nghĩa như thế nào đối với việc thể hiện diễn biến tâm trạng của Liên và đối với việc thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm.

Ánh sáng của phố huyện sẽ làm cho nỗi buồn của Liên thêm thấm thía, còn ánh sáng của chuyển tàu đêm lại giúp niềm khao khát ánh sáng của phố phường Hà Nội và của một “thế giới khác” trở nên mãnh liệt hơn.

Ánh sáng của phố huyện thể hiện nỗi xót thương của Thạch Lam đối với những kiếp người nghèo khổ, tăm tối. Ánh sáng của chuyển tàu đêm lại cho thấy tấm lòng trân trọng của nhà văn trước niềm khát khao “một cái gì tươi sáng hơn” ở những con người nghèo khổ ấy. Đấy chính là khát vọng đổi đời, dù còn mơ hồ nhưng thấm thía, là tình cảm nhân đạo sâu sắc của nhà văn.

Thầy Phạm Hữu Cường, giảng viên môn Văn, Trường đại học Sư phạm Hà Nội

Câu 2: Vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết một bài nghị luận xã hội ngắn

Thầy Cường cho hay, dạng đề thi ĐH-CĐ thường yêu cầu học sinh viết một bài văn khoảng 600 từ trình bày suy nghĩ về một quan niệm hay một chủ đề nào đó. Phần lớn nội dung đề thi đại học vừa hỏi về hiện tượng đời sống vừa là tư tưởng đạo lý.

Đối tượng xã hội trong đề thi khá rộng, học sinh không thể bao quát hết được, do đó các em nên nghĩ về nội dung cơ bản như: Nghị lực sống phi thường của con người đã làm những điều kỳ diệu (qua những tấm gương như Nick Vuijcic); sự không công bằng, sự lãng phí… trong nhà trường xã hội hiện nay.

Thí sinh cố gắng làm bài thi phần này trong vòng 54 phút và viết khoảng 600 từ. Bài viết ngắn gọn nhưng vẫn phải có mở bài từ 3 đến 5 dòng.

Thí sinh phải giải thích được từ ngữ, hình ảnh cụ thể trong quan niệm và giải thích toàn bộ quan niệm mà đề bài đưa ra. Trong quá trình bàn luận, thí sinh lưu ý xem quan niệm nêu trong đề đã đúng và đủ hay chưa. Hiện tượng nêu trong đề là tích cực hay tiêu cực, nên phát huy hay cần phải khắc phục. Đồng thời, thí sinh phải kết hợp được một vài dẫn chứng thật tiêu biểu làm cho luận điểm của mình thuyết phục hơn.

Ví dụ: Khi nêu về nghị lực sống của con người đã làm nên điều kỳ diệu thì một trong những nhân vật có thể đề cập là Nick Vuijcic – một tấm gương, một biểu tượng tuyệt vời về nghị lực sống và vượt lên chính mình.

Cuối cùng, thí sinh rút ra bài học về nhận thức và bài học về hành động. Mỗi một bài học thí sinh cố gắng lấy vị dụ sát với tuổi trẻ và sau đó kết bài. Như vậy phần nghị luận nếu thí sinh làm tốt các em có thể dễ dàng ăn điểm ở phần giải thích và phần bài học. Còn phần nội dung và bàn luận ít khi các em được trọn vẹn 2 điểm nhưng nếu các em làm theo cách nêu trên cũng có thể được khoảng 1,5 điểm.

Câu 3 (5 điểm): Phân tích, cảm nhận truyện ngắn hoặc thơ

Thầy Cường cho biết đây là câu quan trọng nhất của đề thi. Thí sinh nên làm trong vòng thời gan 90 phút nhưng thông thường các em sẽ bị thiếu thời gian. Do vậy học sinh cố gắng làm câu I trong khoảng 20 phút, để dành thêm 15 phút cho câu III. Học sinh cố gắng viết khoảng 4 đến 5 mặt giấy.

Ở câu này, thí sinh thường gặp các dạng câu hỏi sau:

– Dạng 1: Phân tích cảm nhận thơ, thường là một đoạn thơ từ 8 dòng trở lên.

– Dạng 2: Phân tích văn xuôi hoặc kịch, đề có thể cho vào kiến thức lớp 11 hay 12. Nếu đề cho văn xuôi hoặc kịch, thí sinh phải quan tâm đến tình huống truyện, tư tưởng đặt ra trong tác phẩm.

– Dạng 3: Bài so sánh văn học, dạng này thường có 5 kiểu ra đề: đề bài yêu cầu phân tích, cảm nhận 2 nhân vật trong tác phẩm; đề yêu cầu phân tích cảm nhận 2 đoạn thơ, mỗi đoạn từ 4 đến 8 dòng; đề cho phân tích, so sánh cảm nhận 2 đoạn văn trong truyện ngắn…

– Dạng 4: Đề bài cho phân tích 3 chi tiết trở lên. Ví dụ: Chi tiết bát phở của bác Siêu trong tác phẩm “Hai đứa trẻ”, chi tiết nồi cháo cám trong tác phẩm “Vợ nhặt”, cây xương rồng luộc chấm muối trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.

– Dạng 5: Yêu cầu so sánh về hai kết thúc trong tác phẩm. Ví dụ: Kết thúc của truyện ngắn “Chí Phèo” và truyện ngắn “Vợ nhặt” để chỉ ra sự thay đổi trong phong cách nghệ thuật của nhà văn.

Nhìn chung các dạng đề này, học sinh cần lưu ý: Sau khi mở bài học sinh nêu vài nét về tác giả tác phẩm (nên viết khoảng 10 dòng).

Phần phân tích và cảm nhận, nếu là thơ, học sinh bám vào chủ đề tác phẩm, không suy diễn chủ quan tuỳ tiện. Học sinh phải từ nghệ thuật chỉ ra nội dung tác phẩm. Trong quá trình phân tích học sinh nên kết hợp phân tích và so sánh, bài làm sẽ tốt hơn.

Sau khi hoàn thành bài thi cả 3 câu, học sinh nên dành thời gian 3 đến 5 phút xem lại bài thi. Trong quá trình viết, do sự say mê hoặc do học sinh không để ý sẽ có những lỗi chính tả, lỗi diễn đạt vì vậy phải đọc soát lại bài.

Cuối cùng, thí sinh nên kiểm tra lại số báo danh, tờ thi, họ tên ngày tháng năm sinh và gấp tờ giấy thi theo đúng đường kẻ quy định.

“Để đạt điểm cao môn Văn, khi nhận đề thi, thí sinh nên đọc thật kỹ đề bài thi, chú ý đến các từ ngữ quan trọng trong đề để từ đó xác định đúng yêu cầu, nội dung trong đề bài. Khi làm bài, các em nên làm đủ 3 câu trong đề, bởi nội dung dù sơ sài một chút thí sinh vẫn được điểm cao hơn nhiều so với việc các em bỏ bớt đi một câu và tập trung làm quá chi tiết những câu khác”.

Thầy Cường cho biết, cái khó của đề thi đại học môn Văn là ở chỗ thí sinh phải giải quyết được đầy đủ, sâu sắc yêu cầu của đề trong một thời gian hạn hẹp. Vì vậy khi làm bài thi, thí sinh nên chú ý đến việc phân bổ thời gian hợp lý và dành ít phút viết thật nhanh ý chính ra nháp để tránh quên ý khi làm bài.

Trung tâm luyện thi Tô Hoàng Chúc các bạn luyện thi đại học tốt !

Chuyên mục
Học vui

Phương pháp giải nhanh đề thi đại học

Trung tâm luyện thi đại học Tô Hoàng gửi tới các bạn tài liệu tham khảo phương pháp giải nhanh đề thi đại học, cao đẳng dành cho các bạn đang luyện thi đại học cao đẳng cách thức làm một bài thi hiệu quả và nhanh nhất

– Sau 12 năm học tập, giờ đây chỉ còn một kì thi duy nhất đang chờ đợi các em đó là kì thi đại học. Đây sẽ là kì thi khó khăn nhất trong suốt 12 năm các em ngồi trên ghế nhà trường. Kì thi đại học chính là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời của mỗi học sinh vì thế mỗi học sinh cần phải chuẩn bị kiến thức thật toàn diện vì nội dung của đề thi mang tính liên tục. Có lẽ trong các môn, môn toán vẫn luôn chiếm vị trí quan trọng và là vật cản lớn nhất trên bước đường tiến tới giảng đường đại học. Vì thế tôi xin mạo muội góp chút kiến thức đã thu lượm được trong quá trình học tập để viết lên quyển sách này. Hy vọng đây sẽ là tài liệu bổ ích cho các em học tập.

– Quyển sách được chia thành sáu đơn vị bài học và hai phụ lục. Mỗi bài đều là những phần quan trọng, xuất hiện thường xuyên trong đề thi đại học. Ở mỗi bài đều có những đặc điểm sau:

• Phần tóm tắt kiến thức đã học được trình bày ngắn gọn và tổng quát nhằm khơi lại phần kiến thức đã quên của các em.

• Hệ thống các bài làm được chọn lọc kĩ lưỡng, có tính điển hình và khai thác tối đa các góc cạnh của vấn đề nêu ra, đồng thời phương pháp giải ngắn gọn, trực quan cùng nhiều kinh nghệm giải đề giúp các em có thể hiểu được nội dung bài giải và cách áp dụng cho các dạng đề thi sẽ gặp sau này. Đồng thời, các ví dụ đều được trình bày từ cơ bản đến nâng cao. Đây là những đề bài trích ra từ đề thi dự trữ của các năm trước và tham khảo từ những tài liệu của các thầy cô có nhiều năm kinh nghiệm trong quá trình luyện thi nên đảm bảo về mức độ và giới hạn kiến thức. Lời giải trong các ví dụ chỉ là tượng trưng nhằm mục đích nêu lên phương pháp giải, các em và các thầy cô khi tham khảo cuốn tại liệu này có thể tìm ra và trình bày cách giải và cách trình bày hợp lí hơn. Các em nên tập giải các dạng bài trên một cách thuần thục và độc lập. sau khi giải xong mời xem phần lời giải. Đó là điều mà tác giả kì vọng nhiều nhất.

• Lí giải các phương pháp, đưa ra thuật toán giải chung, đưa ra bản chất lời giải, đó là phần lời bình, lưu ý ở cuối mỗi bài tập. Phần phụ lục là 12 đề thi tiêu biểu theo cấu trúc đề thi mới nhất do Bộ GD&ĐT công bố. 

Trung tâm luyện thi Tô Hoàng chúc các bạn ôn thi tốt!

Chuyên mục
Học vui

Phương pháp để làm tốt môn Tiếng Anh

Theo Ths. Nguyễn Danh Huy để làm tốt môn thi Tiếng Anh chúng ta cần có “chiến lược” đạt điểm cao.

Phần đọc hiểu: Đề thi Tiếng Anh thường có từ 1 đến 2 bài đọc, chiếm tỷ lệ điểm từ 20-30% trên tổng điểm.

    Nhiều thí sinh mất điểm oan khi làm bài đọc do một số lỗi sau: cố tìm hiểu chi tiết nội dung của bài viết thay vì cần hiểu ý chính, thông tin câu hỏi có sẵn trong bài hoặc những đáp án lựa chọn cho sẵn. Dành quá nhiều thời gian cho tìm hiểu, phán đoán ý nghĩa của từ vựng thay vì hiểu ý chính của câu và của đoạn để tìm ra ngay đáp án phù hợp. Làm theo thứ tự câu hỏi thay vì lựa chọn câu hỏi và đáp án phù hợp với nội dung để hoàn thành. Chỉ đọc lướt ý của câu hỏi mà không chú trọng vào nghĩa phủ định của các từ, dẫn đến việc hiểu nhầm nội dung câu hỏi. Những dạng câu hỏi này hay xuất hiện phần phủ định ở cuối câu dùng với liên từ như: but, except, excluding… hoặc cụm từ: not true, not correct, not mentioned, do(es)not refer…

    Phần câu hỏi ngữ âm: Phần thi này chỉ có 5 câu nhưng lại chiếm tỷ lệ xấp xỉ 10% tổng điểm bài thi. Khi làm phần này, nếu TS không đọc bật hơi (phát thành tiếng) các từ vựng thì khó xác định được dấu trọng âm, hoặc tìm ra cách đọc khác nhau giữa các từ cho sẵn.

    Chọn phương án sát nghĩa với câu cho sẵn: Phần thi này đòi hỏi kỹ năng viết câu đúng của TS, thường chiếm tỷ lệ từ 8-15% tổng điểm. Muốn làm tốt, thí sinh cần lưu ý: phần lớn các câu cho sẵn được mặc định ở các dạng câu giao tiếp, hội thoại nên khi chuyển ý (sang dạng bị động/chủ động; câu trực tiếp/gián tiếp) thường sử dụng văn viết, do đó về cơ bản thì cấu trúc câu, chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ… cũng thay đổi theo.

    Câu hỏi có sử dụng các câu trần thuật, mệnh lệnh thức, câu cầu khiến hoặc câu cảm thán khiến cho ý nghĩa của câu bị thay đổi, các động từ thường được sử dụng để thay thế như: ordered, forced, demanded, requested, suggested, warned, advised… Thí sinh cần dùng tư duy và suy luận logic để hiểu rõ định dạng câu, phân tích các mệnh đề chính, qua đó tìm ra ý nghĩa của câu, so sánh với các đáp án tương đồng phù hợp.