Chuyên mục
Học vui

Hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp THPT môn ngữ văn

Kỳ thi tốt nghiệp THPT và kì thi đại học đang đến gần thời gian đang rất quý với các bạn học sinh vơi lượng kiến thức không lồ để học hết trong thời gian ngắn rất khó khăn với các bạn học sinh để có được cách ôn tập tốt nhất và tiết kiệm cho các bạn học sinh xin chia sẻ với các bạn một số điều sau . Mong rằng sẽ có ích cho các bạn đang ôn thi tốt nghiệp cũng như các bạn đang ôn thi đại học

* Phần mở bài bao giờ cũng phải giới thiệu chung về tác giả, nội dung sáng tác, phong cách nghệ thuật, xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, chủ đề tác phẩm. Nếu có phần mở bài riêng thì phần này sẽ được đẩy xuống phần đầu tiên của thân bài.

(Ví dụ: giới thiệu về bài thơ Sóng: Xuân Quỳnh là một nhà thơ nữ xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Thơ của Xuân Quỳnh là tiếng nói của tâm hồn người phụ nữ đầy trắc ẩn và luôn da diết với hạnh phúc đời thường/ Bài thơ Sóng được sáng tác năm 1967 tại biển Diêm Điền, bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách thơ của Xuân Quỳnh hồn hậu, tự nhiên, đằm thắm, chân thành/ Sóng là lời tự bạch chân thành, tha thiết và sâu sắc của trái tim người con gái đang yêu, khi yêu trạng thái tâm lý của người con gái có bao nhiêu biểu hiện thì soi vào bài thơ Sóng ta thấy có bấy nhiêu biểu hiện: từ trạng thái đối cực đến nỗi nhớ mong chờ đợi và khát vọng vươn tới một tình yêu vĩnh hằng)

* Phần thân bài chú ý phân tích theo đặc điểm thể loại.

Về văn xuôi

1. Phải làm nổi bật được đặc điểm của nhân vật trên các phương diện: ngoại hình, tính cách, tâm trạng, số phận.

(Ngoại hình của nhân vật người đàn bà và người đàn ông trong Chiếc thuyền ngoài xa, của nhân vật Chiến – những đứa con trong gia đình – ngoại hình bao giờ cũng góp phần thể hiện tính cách, số phận và thành phần xuất thân của nhân vật. Về tính cách, Tnú: dũng cảm gan dạ, kiên cường, bất khuất, yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc, người đàn bà: cam chịu nhẫn nhục, giàu lòng vị tha và đức hi sinh, thấu hiểu sâu sắc lẽ đời. Về tâm trạng – thường đi theo trục thời gian – tâm trạng của nhân vật Tràng: khi ở trên phố, khi nhặt vợ, khi đưa về nhà và sau khi đưa vợ về nhà; tâm trạng của nhân vật thị: trước khi là vợ nhặt, khi là vợ nhặt, sau khi là vợ nhặt; diễn biến tâm trạng của Mỵ trong đêm tình mùa xuân và khi cứu A Phủ. Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật bao giờ cũng chú ý làm rõ tính cách số phận của nhân vật. Về số phận, kết thúc tác phẩm nhân vật có kết cục như thế nào. Sống trong bạo hành dã man của người chồng, hay một tương lai tươi sáng hé mở cho vợ chồng anh Tràng với hình ảnh đoàn người đói với lá cờ đỏ đi phá kho thóc của Nhật.

– Sau khi phân tích phải đánh giá về nhân vật: đại diện cho tầng lớp nào, thể hiện ý đồ gì của tác giả và giá trị gì của tư tưởng của tác phẩm.

Dù phân tích ở mức độ nào, một đoạn văn, một nhân vật hay một chi tiết nghệ thuật, khi phân tích xong đều phải đúc kết được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.

2. Những biểu hiện của giá trị hiện thực và nhân đạo

– Nói lên nỗi khổ đau của con người: bị bóc lột về vật chất, bị chà đạp về tinh thần, bị tước đoạt sự sống, hạnh phúc…

(Nỗi đau khổ của con người: Vợ chồng A Phủ là nỗi khổ bị bóc lột, bị đọa đày, Mỵ và A Phủ đều là nạn nhân của nhà Thống Lí: một người là con dâu gạt nợ, một người là con ở gạt nợ, bị bóc lột sức lao động đến kiệt quệ, làm việc quần quật như trâu ngựa, làm thân phận tôi đòi đến mãn kiếp không ngóc đầu lên được. Vợ nhặt là nạn đói khủng khiếp, thân phận con người bị coi như cỏ rác, đói đến mức những chuyện thiêng liêng hệ trọng của đời người trở thành chuyện giản đơn, người ta có thể nhặt vợ ở ngoài đường mang về; là sự chịu đựng đau đớn của người đàn bà trước sự tàn bạo của người chồng, đánh vợ mà như đánh kẻ thù truyền kiếp trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa)

– Tố cáo giai cấp thống trị và xã hội thối nát – nguyên nhân dẫn đến sự đau khổ bất hạnh của con người.

(Sự tàn ác dã man của cha con thống lí Pá Tra, bóc lột sức lao của người dân lao động đến kiệt cùng, coi mạng người như cỏ rác – Vợ chồng A Phủ. Vợ nhặt – tố cáo nạn bạo hành trong gia đình, sự tàn bạo của người chồng vũ phu, sự đói nghèo sau chiến tranh – Chiếc thuyền ngoài xa)

– Ngợi ca vẻ đẹp của con người: vẻ đẹp ngoại hình, vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp về tài năng, nhân cách.

(Ở A Phủ là một thân hình cao lớn có sức lao động hơn người “như một con trâu tốt trong nhà”, là sự hồn nhiên trẻ trung yêu đời “ngày tết chỉ có một cái vòng vía ở cổ vẫn đi chơi”, là sự dám đánh lại con nhà quan mà không sợ bị đánh hay phạt vạ; ở Mỵ là sự tài hoa, xinh đẹp, hiếu thảo, là sự tiềm tàng sức phản kháng mãnh liệt như than hồng được ủ kín trong tro không bao giờ bị dập tắt; ở người đàn bà là sự cảm thông cho sự vất vả, cực nhọc của người chồng trong cuộc mưu sinh, là sự hi sinh hết mực, sống cho con chứ không phải cho mình; ở bà cụ Tứ là sự thương yêu cảm thông chia sẻ “người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy đến con mình và con mình mới có được vợ” – là sự an ủi động viên vun đắp lo lắng cho tương lai con.

– Thái độ cảm thông của nhà văn đối với nỗi bất hạnh của nhân vật.

(Đó là sự quan tâm, chia sẻ của Nguyễn Minh Châu với những người phụ nữ làng chài nơi vùng biển vắng, họ phải vất vả cực nhọc lam lũ trong cuộc vật lộn với sóng gió cuộc đời và sóng gió biển khơi – Chiếc thuyền ngoài xa. Với Tô Hoài đó là sự ấm ức tức tưởi như hòa cùng nỗi lòng thổn thức của nhân vật, dường như mỗi lần Mỵ rơi vào đau khổ là mỗi lần Tô Hoài cùng khóc với Mỵ, nhà văn tin vào sức sống bất diệt của con người không bao giờ bị dập tắt – Vợ chồng A Phủ)

– Đề cao khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người, hướng nhân vật đến một tương lai tươi sáng.

(Nhà văn nói lên nguyện vọng đau đáu thiết tha muốn được vươn lên làm người, muốn sống một cuộc sống cho ra sống, sự phản kháng lại cái xã hội áp bức bóc lột, phản kháng lại thực tại đen tối để tìm đến tự do và hạnh phúc – Vợ chồng A Phủ. Khao khát vươn lên cái thảm đạm để mà vui mà hi vọng của người dân ngụ cư, Kim Lân đã khẳng định sự bất diệt của khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người trong mọi hoàn cảnh – Vợ nhặt)

3. Bên cạnh giá tri nội dung tư tưởng của tác phẩm, cần phải phân tích những phương tiện nghệ thuật để biểu đạt nội dung đó:

– Tình huống truyện (tình huống éo le độc đáo trong Vợ nhặt, tình huống nhận thức và phát hiện trong Chiếc thuyền ngoài xa, tình huống lựa chọn có tính chất bi kịch trong Chữ người tử tù, tình huống dữ dội đột ngột bất ngờ trong Rừng xà nu) .

– Cách xây dựng nhân vật: miêu tả ngoại hình, tính cách, phân tích diễn biến tâm lý (ngoại hình cao lớn, lam lũ của người đàn bà, ngoại hình dữ tợn của người đàn ông – Chiếc thuyền ngoài xa; ngoại hình khật khưỡng của Tràng trong mỗi chiều hôm chạng vạng, ngoại hình lọng khọng của bà cụ Tứ – Vợ nhặt; diễn biến tâm lý của Mỵ trong đêm tình mùa xuân và khi cứu A Phủ, diễn biến tâm lý của bà cụ Tứ khi Tràng dẫn vợ về nhà).

– Ngôn ngữ tác phẩm: mang dấu ấn vùng miền nào, có đặc điểm gì, ngôn ngữ đó góp phần như thế nào trong việc làm nên giọng văn của tác giả (ngôn ngữ mang đậm sắc thái miền núi – Rừng xà nu; ngôn ngữ đậm sắc thái Nam bộ – Những đứa con trong gia đình; đậm sắc thái Bắc bộ – Vợ nhặt).

– Bút pháp được sử dụng chủ yếu trong thiên truyện: sử thi, lãng mạn, miêu tả, hiện thực, trào phúng, đối lập (sử thi, lãng mạng – Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình – hiện thực lãng mạn – Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ – hiện thực trào phúng – Hạnh phúc của một tang gia – vừa hiện thực lãng mạn lại vừa tương phản đối lập – Vợ nhặt).

– Giọng kể: theo ngôi thứ mấy – thứ nhất hay thứ ba – lạnh lùng hay cảm xúc khách quan hay theo cảm xúc chủ quan, theo trình tự thời gian hay là đảo ngược – quá khứ, hiện tại , quá khứ gần quá khứ xa – mỗi ngôi kể sẽ có một tác dụng riêng tạo nên sự sinh động của câu chuyện (“Chiếc thuyền ngoài xa ” kể theo ngôi thứ ba , nhưng cũng có những lúc tác giả để cho nhân vật kể chuyện mình theo ngôi thứ nhất; “Vợ nhặt”, “Vợ chồng A Phủ” theo ngôi thứ ba , “Rừng xà nu ” ngôi kể là một nhân vật trong truyện – cụ Mết ).

* Về thơ

Chú ý khai thác những yếu tố nghệ thuật thường được sử dụng trong thơ:

1. Thể loại thơ ( “Sóng” thể thơ năm chữ ngắt nhịp đa dạng có tác dụng diễn tả một cách sâu sắc sự chuyển hóa đa dạng, phong phú của những con sóng, ” Đất nước” thể thơ tự do không bị gò bó về mặt câu chữ tuôn theo mạch cảm xúc, “Đàn ghi ta” thể thơ tự do những câu thơ dài ngắn khác nhau chữ cái đầu dòng không viết hoa sự đổi mới cách tân về nghệ thuật của Thanh Thảo, “Việt Bắc” thể thơ lục bát đậm tính dân tộc, phù hợp với giọng điệu trữ tình thương mến góp phần gợi lên sự da diết trong buổi chia ly. “Đất nước” thể thơ tự do không bị gò bó về câu chữ vần điệu thể hiện sự phóng túng trong cảm xúc).

2 . Các biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, điệp ngữ, câu hỏi tu từ, phép đối, từ láy, từ trường nghĩa…

3. Ngắt nhịp, phối thanh, gieo vần, hình ảnh

(Dốc lên/khúc khuỷu /dốc/ thăm thẳm

Nhịp thơ từ 3/4 gãy thành 2//2/1/2, câu thơ có tới 5/7 thanh trắc, hai cặp từ láy có tác dụng diễn tả: những cái dốc như dựng đứng trước mặt, lên đến tận trời cao, hơi thở nặng nhọc dồn dập của người leo núi, những con đường khúc khuỷu cheo leo…)

4. Hình tượng thơ (Hình tượng sóng, hình tượng đàn ghita của Lorca, hình tượng Lorca, hình tượng người chiến sĩ Tây Tiến, hình tượng đất nước…)

5. Sau khi phân tích xong phải chú ý nêu lên cảm xúc, cái tôi trữ tình của nhà thơ qua bài thơ, đoạn thơ (Sự ngưỡng mộ tài năng và thương tiếc cho số phận nghiệt ngã của Lorca – Đàn ghita của Lorca – cái tôi mãnh liệt sôi nổi nhưng cũng rất giàu nữ tính của tâm hồn của người phụ nữ hồn hậu và khao khát hạnh phúc – “Sóng” của Xuân Quỳnh)

* Các bước làm một bài văn nghị luận xã hội

1. Về tư tưởng đạo lý :

– Giới thiệu vấn đề

– Giải thích khái niệm

– Bàn luận: lý do – biểu hiện – ý nghĩa

– Thái độ đối lập

– Nâng cao đánh giá

– Bài học nhận thức và hành động

2. Về một hiện tượng xã hội

– Giới thiệu vấn đề

– Giải thích khái niệm

– Phân tích thực trạng – hậu quả

– Tìm nguyên nhân

– Biện pháp khắc phục

– Bài học nhận thức và hành động cho bản thân

+ Khi làm bài các em có thể thay đổi thứ tự các bước, nhưng không nên bỏ bất cứ bước nào.

3. Về dẫn chứng

– Trong bài văn nghị luận dẫn chứng rất quan trọng, dẫn chứng hay, xác đáng cũng giống như nụ cười làm sáng bừng khuôn mặt. Dẫn chứng phải tiêu biểu, cụ thể, chính xác, toàn diện, vừa đủ. Trong bài văn nghị luận xã hội nên hạn chế lấy dẫn chứng trong tác phẩm văn học.

– Dẫn chứng cần có độ khái quát chỉ chắt lọc những điều cơ bản nhất, tránh tình trạng sa vào kể lại dẫn chứng.

Một yếu tố khác cũng quan trọng là chữ viết phải rõ ràng, cẩn thận sẽ giúp người đọc có thiện cảm hơn với bài viết của mình.

Chúc các em làm bài thi môn văn thật tốt và đạt kết quả như mong đợi .

Cô HOÀNG THỊ THU HIỀN – giáo viên môn văn Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM

Chuyên mục
Học vui

Học sinh không thích học toán vì sao?

Hội đồng Nghiên cứu Giáo dục Úc (ACER) vừa công bố nghiên cứu cho biết học sinh Úc không mấy hứng thú với môn toán.

Trung tâm luyện thi Tô Hoàng – Nhìn chung, việc dạy và học toán trong các trường học là một công việc nhàm chán và cả thầy lẫn trò vẫn thường tự hỏi học toán để làm gì hoặc khi nào thì người học toán có thể áp dụng những điều mình được học vào thực tế?

Nguyên nhân của sự ‘buồn tẻ’

Tác giả báo cáo, Giáo sư Peter Sullivan thuộc Đại học Monash cho hay, một trong những lý do khiến một số người rất ghét môn toán là vì nó đã được giảng dạy theo cách thức khô khan, buồn tẻ.

Phương pháp dạy và học toán tại các trường học hiện nay là giáo viên chỉ dạy những điều học sinh phải học, còn về phần học sinh, các em cũng học một cách thiếu sáng tạo. Điều này đã phần nào làm ‘thui chột’ óc sáng tạo và trí tưởng tượng của các em.

Không như một số môn học khác, toán học là một quá trình tuần tự, nối tiếp nhau. Nếu vì một lý do nào đó, một học sinh bị ‘đứt quãng’ thì sẽ bị khuyết đi một ‘mắt xích’ kiến thức khiến em khó lòng theo kịp và nối kết quãng ‘bị đứt’.

Bên cạnh đó, Giáo sư Sullivan cho biết một nguyên nhân khác là với sự phát triển của công nghệ và kĩ thuật hiện nay thì nhiều vấn đề toán học được dạy trong nhà trường đã trở nên không cần thiết hoặc không quá quan trọng như trước đây.

Còn bà Phương Mai – giáo viên môn toán và khoa học tại một số trường trung học ở phía Đông thành phố Melbourne (bang Victoria), cho hay một phần nguyên nhân khiến toán học bị coi là khô khan là vì môn này đã được giảng dạy tách rời với cuộc sống. Tuy nhiên, bà cũng thừa nhận “rất khó cho người giáo viên khi phải dung hòa lý thuyết với thực tế” và việc đưa môn toán vào cuộc sống không phải là điều dễ dàng.

Ngoài ra, một trong những yếu tố khiến toán trở thành một môn học buồn tẻ còn có liên quan tới đội ngũ giáo viên. Nhiều giáo viên, nhất là những giáo viên tiểu học, ngại dạy toán vì bản thân họ trước đây cũng không thích môn toán từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Điều này đã tạo thêm một vấn đề nan giải khi những giáo viên không yêu thích toán buộc phải làm công việc giảng dạy môn này cho học sinh, nhất là học sinh bậc tiểu học.

Bà Carol Moule, Chủ tịch Hiệp hội Toán học Nam Úc và từng là một giáo viên dạy toán, gọi đây là vấn đề ‘đa thế hệ’. Tuy nhiên, bà cho hay không hẳn mọi lớp học toán đều buồn tẻ và có nhiều lớp học toán rất sinh động vì giáo viên biết cách dạy và thúc đẩy được niềm yêu thích của học sinh.

Học sinh Việt Nam và môn toán

Ông Lê Năm, một giáo viên về hưu trước đây từng dạy toán tại cả Việt Nam và một số trường trung học ở miền Đông Nam Melbourne cho hay nhìn chung, cả học sinh Úc lẫn Việt Nam đều không thích môn toán. Mặc dù vậy, các em học sinh Việt Nam thường ít biểu lộ quan điểm một cách rõ rệt như học sinh Úc trong vấn đề này.

Tại Việt Nam, các bậc cha mẹ thường có khuynh hướng thúc đẩy hoặc ‘cưỡng ép’ con cái học toán. Theo ông Năm, lý do là vì tại Việt Nam, có rất nhiều ngành nghề đòi hỏi sự ứng dụng của môn toán như kĩ sư, y khoa, nha khoa, tin học cao cấp… và phụ huynh thường có quan niệm những ngành này ‘sang’ hơn những ngành không mang tính ứng dụng như: xã hội, nhân chủng học, nghệ thuật… Thậm chí, có người còn cho rằng việc học kém môn toán thường đồng nghĩa với một ‘tương lai u ám’.

Trong khi đó ở Úc, các ngành học mang tính ứng dụng hoặc không ứng dụng đều rất phong phú khiến cho học sinh có nhiều chọn lựa hơn. Do đó, một khi các em không thích toán thì các em sẵn sàng đi vào các ngành không cần sự ứng dụng của toán và cha mẹ các em cũng sẵn lòng chấp nhận điều đó. Vì vậy, có thể nói rằng học sinh ở Úc không chịu nhiều sức ép từ việc học toán như ở Việt Nam.

Ông Năm cho biết mặc dù học sinh Việt Nam ít khi biểu lộ quan điểm của mình về môn toán nhưng ông có cảm tưởng là “học sinh Việt Nam thường thích toán hơn học sinh Úc”.

Làm sao để dạy và học toán hiệu quả?

Bà Phương Mai cho biết một vài ‘bí quyết’ trong việc dạy toán, theo đó, một trong những phương pháp hiệu quả nhất để giúp học sinh yêu thích môn toán là giáo viên phải biết cách liên hệ những điều tưởng chừng khô khan, ví dụ: phân số, tỷ lệ, đạo hàm, quỹ tích hoặc thậm chí đơn giản như phép cộng, trừ hoặc nhân, chia, với những thực tiễn sinh động của cuộc sống để kích thích óc tưởng tượng và sáng tạo của học sinh.

Ngoài ra, nếu giáo viên, đặc biệt giáo viên tiểu học, có thể giúp học sinh biết cách ứng dụng trực tiếp môn toán khi các em đi chợ, đi dạo quanh nhà, chơi trong sân trường… thì các em sẽ dễ dàng tiếp thu hơn và do đó thích môn toán hơn.

Về phía đội ngũ giáo viên, Giáo sư Sullivan cho biết các giáo viên toán cần được hỗ trợ trên nhiều phương diện để làm cho môn học này trở nên hứng thú hơn đồng thời gắn bó thiết thực hơn với học sinh.

Hiện nay, các tiểu bang và vùng lãnh thổ tại Úc đang tiến tới việc áp dụng một chương trình học thống nhất cấp quốc gia cho môn toán và khoa học.

Chính phủ Úc tin rằng việc dạy các kỹ năng căn bản liên quan tới môn số học là điều vô cùng thiết yếu bởi nếu không có được những kỹ năng đó thì học sinh sẽ không bao giờ có thể tiến bộ khi bước vào những lĩnh vực phức tạp hơn của môn toán

Thay đổi cách dạy và học

Bản báo cáo của 8 trường đại học hàng đầu kêu gọi giáo viên tiểu học cần sử dụng thêm các thiết bị dạy học cũng như đổi mới phương pháp dạy để môn toán và các môn khoa học trở nên hấp dẫn hơn đối với học sinh. Đồng thời, nên ngừng việc ám chỉ môn toán bằng những từ ngữ như ‘cao cấp’, ‘chuyên môn’, vì điều này dẫn đến khái niệm rằng chỉ có những đứa trẻ thông minh mới có thể ‘đối phó’ được với môn học này.

Ngoài ra, một trong những yếu tố khiến toán trở thành một môn học buồn tẻ còn có liên quan đến đội ngũ giáo viên. Giáo sư Dowd cho rằng cần phải đảm bảo rằng học sinh được học với những giáo viên có trình độ cao và lòng đam mê với các môn toán và khoa học.

Giám đốc Viện Khoa học Toán Australia, ông Geoff Prince, đề nghị nên có chiến dịch 5 năm nhằm nâng cao nhận thức của mọi người về tầm quan trọng của toán học và thống kê trong những ngành nghề khác nhau, đồng thời cũng giúp các bậc phụ huynh và học sinh biết được những ngành nghề nào cần đến những môn học này. Học toán không chỉ để dạy toán hay trở thành những nhà toán học mà còn nhiều ngành nghề khác đòi hỏi kỹ năng toán như phân tích tài chính, kỹ sư phần mềm…

Chuyên mục
Học vui

Top 4 cách học hiệu quả

Để tìm được cách học hiệu quả nhất, bạn cần hiểu rõ về:

  • Bản thân
  • Khả năng học của bạn
  • Cách học hiệu quả mà bạn đã từng dùng
  • Đam mê, kiến thức và môn bạn muốn học

Có thể bạn học Vật lí khá dễ dàng nhưng lại trật vật khi học đánh tennis (hoặc ngược lại).
Tuy nhiên, mọi việc học đều có điểm chung: đó là chúng bao gồm các bước cơ bản sau:

Có bốn bước cơ bản:
Hãy bắt đầu bằng việc in trang này và trả lời các câu hỏi.
Sau đó, hãy vạch ra kế hoạch học từ những câu trả lời đó và với những Hướng dẫn học khác.

 

 

 

Bắt đầu với những kinh nghiệm đã có

Trước đây bạn đã học như thế nào? Bạn có:

  • Thích đọc không? Giải toán? Ghi nhớ? Diễn thuyết? Dịch? Nói trước đám đông?
  • Biết cách tóm tắt?
  • Tự đặt câu hỏi cho những gì bạn đã học
  • Ôn tập kiểm tra?
  • Có các thông tin từ các nguồn khác nhau?
  • Thích yên tĩnh hay thích học theo nhóm?
  • Cần nhiều tiết học ngắn hay chỉ một tiết học dài?

Thói quen học của bạn là gì? Những thói quen đó đã bao giờ thay đổi chưa? Phương pháp nào hiệu quả nhất? Kém hiệu quả nhất?

Bạn cảm thấy thoải mái với cách trình bày kiến thức nào nhất? Qua bài kiểm tra viết, bài thi học kỳ hay thi vấn đáp?

 

 

 

Liên hệ với việc học hiện tại

Tôi thích học cái này đến mức nào?
Tôi muốn dành bao nhiêu thời gian cho việc học này?
Điều gì có thể chi phối thời gian của tôi?

Những điều kiện hiện tại có thuận lợi để hoàn thành mục đích không?
Tôi có thể kiểm soát được gì và điều gì tôi không kiểm soát được?
Liệu tôi có thể thay đổi những điều kiện này để thành công không?

Điều gì ảnh hưởng đến sự đam mê của tôi cho công việc này?

Tôi đã có một kế hoạch cụ thể nào chưa? Và kế hoạch học tập đó có tính đến những kinh nghiệm đã có và hiện tại chưa?

 

 

 

 

 

Cân nhắc quá trình và vấn đề

Tiêu đề là gì?
Các từ khóa có bật ra ngay không?
Tôi có hiểu không?

Tôi đã có những hiểu biết gì về vấn đề này?
Tôi có biết các vấn đề liên quan không?

Những nguồn thông tin nào sẽ hữu ích?
Liệu tôi nên dựa vào một nguồn (ví dụ: sách giáo khoa) hay không?
Liệu tôi có cần các thông tin khác nữa không?

Khi tôi học, tôi có dừng lại và hỏi là liệu mình có hiểu những gì vừa học không?
Nên tiếp tục làm nhanh hơn hay chậm lại?
Khi tôi không hiểu, tôi có hỏi tại sao không?

Tôi có dừng lại và tóm tắt không?
Tôi có dừng lại và xem nó có logic hay không không?
Tôi có dừng lại và đánh giá (tán thành hoặc bất đồng quan điểm?)

Hay tôi nên dành thời gian để nghĩ thêm và đọc lại sau?
Liệu tôi có cần thảo luận với bạn cùng học để “tiêu hóa” các thông tin này không?
Liệu tôi có cần sự giúp đỡ của một người hiểu biết, ví dụ: thầy cô giáo, thủ thư hay là một chuyên gia trong lĩnh vực này hay không?

 

 

Cùng nhìn lại

Tôi đã học đúng cách chưa?
Tôi đã có thể làm tốt hơn những gì?
Kế hoạch có tính đến sở trường hay sở đoạn của tôi chưa?

Tôi đã chọn điều kiện thích hợp chưa?
Công việc có thể coi là trót lọt chưa? Và tôi có nghiêm khắc với bản thân mình hay chưa?

Tôi đã thành công?
Nếu thành công, bạn nên ăn mừng đi!

Trung tâm TÔ HOÀNG chúc các bạn học tập tốt !

Mọi thông tin chi tiết có thể liên hệ trực tiếp theo số điện thoại của trung tâm.

———————————————————————————

  –   Trung tâm có bãi để xe đạp và xe máy thuận tiện cho học sinh đến học.

  –   Phòng học rộng rãi thoáng mát được trang bị đầy đủ thiết bị và có điều hòa cho mỗi phòng.

  –   Học sinh có thể chọn lịch học theo các lớp khác nhau ở trên.

  –   Thời gian học mỗi ca là 1 giờ 30 Phút.

Chuyên mục
Học vui

Để làm tốt môn Văn

Thí sinh phải luyện viết nhiều và tập viết ngắn đó là lời khuyên của Thầy Lê Phạm Hùng trường THPT chuyên Hà Nội-Amsterdam.

Theo thầy Lê Phạm Hùng, Tổ trưởng tổ Văn, trường THPT chuyên Hà Nội-Amsterdam để làm tốt môn Văn thí sinh phải luyện viết nhiều và tập viết ngắn.

    Đề thi gồm ba phần: một câu hỏi trả lời để kiểm tra kiến thức và hai bài viết (một nghị luận xã hội, một nghị luận văn học). Cái mới của năm nay là học sinh buộc phải viết một bài nghị luận xã hội, viết ngắn trong vòng 400 từ, khoảng 1,5 trang.
    Đây là một loại bài khó đối với học sinh vì trước đây, đề thi thường cho hai câu hỏi dạng này để thí sinh chọn một và cũng bởi bẵng đi một thời gian lâu đề thi không ra ở dạng nghị luận xã hội.
    Nay thí sinh bắt buộc phải thi với dạng bài này và lại không phải hai đề chọn một mà lại phải viết thành bài văn hoàn chỉnh.
    Yêu cầu này đòi hỏi thí sinh phải luyện viết nhiều và tập viết ngắn. Ở bậc THCS, học sinh luyện viết đoạn văn, ở bậc THPT, luyện viết bài văn dài khoảng bảy đến tám trang.
    Nay học sinh bắt buộc phải viết một bài văn ngắn đầy đủ nên khá khó. Tuy nhiên, bài nghị luận văn học trước kia dài khoảng sáu đến bảy trang. Nay, bài này chỉ chiếm năm điểm.
    Vì vậy, chỉ nên dài khoảng bốn trang. Điều thí sinh phải chú ý là đề thi sẽ không hỏi một vấn đề lớn trong một văn bản mà có thể chỉ hỏi một ý nào đó nhưng đòi hỏi học sinh vẫn phải nắm chắc văn bản mới làm được ý nhỏ trong văn bản đó.
    Ví dụ, trước kia đề thi có thể hỏi: Phân tích nhân vật Mỵ hay yêu cầu thể hiện giá trị hiện thực nhân đạo của tác phẩm nhưng nay có thể chỉ hỏi một ý nhỏ như phân tích tâm trạng của nhân vật Mỵ trong khi cởi dây trói hay trong đêm tình mùa xuân. Xin nhắc lại: việc đọc kỹ văn bản rất quan trọng.
    Cấu trúc đề thi đã nói rất rõ bài nào cần học. Mục lục của tài liệu này cũng đã chỉ rõ tất cả các bài phải học, trừ những bài đọc thêm. Tuy nhiên, học sinh phải chú ý: Chương trình nâng cao và không nâng cao khác nhau một chút. Tinh thần của Bộ GD&ĐT là: Học theo chương trình nào thì thi theo chương trình ấy.
    Đề thi ĐH cũng có cấu trúc tương tự như đề thi tốt nghiệp THPT, chỉ khác ở chỗ thi ĐH khó hơn, thời gian dài hơn thì bài làm phải dài hơn. Năm nay học sinh nên học hết theo quy định vì đây là một chương trình hoàn toàn mới, có những phần trước đây chưa bao giờ học, chưa bao giờ thi.
    Ngoài học thuộc phải rèn luyện viết vì học sinh hay học theo kiểu thuộc lòng bài văn mẫu và tham kiến thức. Năm nay, với kiểu câu hỏi này, các bài làm văn không được viết quá dài.
    Bình thường với đề mọi năm chỉ có một bài tập làm văn, học sinh thường viết sáu trang và thêm một phần trả lời câu hỏi khoảng một đến hai trang. Như vậy, bài làm của thí sinh ít nhất phải dài được 1,5 tờ giấy thi, tức là khoảng sáu trang.
    Bài tập làm văn cũng chỉ cần viết độ ba đến bốn trang, bài còn lại hai trang. Kiến thức hỏi trong bài thi có thể không khó hơn nhưng kỹ năng khó hơn vì vậy nếu không rèn luyện để viết bài ngắn và xúc tích nhưng đủ ý thì thí sinh sẽ không thể đạt được điểm cao.
    Một điểm nữa thí sinh cần lưu ý là tất cả các hệ thống bài văn mẫu bán rộng rãi trên thị trường khi làm bài phân tích đều phân tích từ đầu đến cuối một tác phẩm nhưng khi đi thi đề thi chỉ hỏi một ý.
    Một điều cần nhắc thí sinh thận trọng với môn Văn, một môn không dễ với các thí sinh thiên về khoa học tự nhiên là một năm chỉ thi tốt nghiệp THPT một lần, không có kỳ thi tốt nghiệp thứ hai nên phải hết sức chú ý đến những điều mới mẻ trong cách ôn tập môn Văn này.
Chuyên mục
Học vui

Chữa ‘bệnh’ lười học mùa thi

Cứ đến mùa thi là sĩ tử nhà ta lại ỉ ôi thở than đủ kiểu, nào là gật gù không thể nào tập trung được, nào là cứ ngồi vào màn hình hết mó cái nọ lại nghịch ngợm cái kia, thôi thì đủ bệnh. Và làm thế nào để có thể ôn thi đại học một cách hiệu quả . Điểm lại mấy chứng bệnh của teen mình để cứu chữa kịp thời xem thế nào nhá:

Mỗi ngày 24 tiếng/ quản lý hiệu quả như nào?

Ai thì cũng chỉ có 24 tiếng để giải quyết mọi việc. Nhưng có bạn lại học rất tốt, có bạn lại ì ạch mãi chẳng làm được gì. Rõ ràng, cách chúng ta sử dụng tài sản quý giá này là khác nhau. Bí quyết đơn giản là học cách nói “không” với những việc ngoài “luồng”.

Thời gian là vàng. Nghĩa là nếu biết tận dụng nó, bạn có thể biến thời gian thành tiền bạc, khi hoàn thành sớm công việc, bạn có thể nghỉ xả hơi. Lên kế hoạch cho mình và đừng để bất cứ việc gì lấn át bạn.

Có kế hoạch to, những cũng có những nhiệm vụ nhỏ. Hoàn thành từng cái nhỏ bạn sẽ tiến lên cái lớn đó.

Tỉ lệ thành công của bạn sẽ cao hơn nếu bạn tận dụng tối đa 1 tiếng đồng hồ để làm một việc nào đó, thay vì mất 2-3 tiếng liền tù tì mà không nghỉ ngơi. Học ngoại ngữ áp dụng phương pháp này thì tuyệt cú mèo, chỉ cần 1 tiếng bạn tập trung học sẽ hiệu quả hơn nhiều so với việc bạn “ôm sách” cả ngày mà tư tưởng cứ lửng lửng lơ lơ.

Không nên nóng vội, đặc biệt khi giải quyết các công việc khó khăn, đi tìm mấu chốt đơn giản nhất có thể để hoàn thành công việc của mình.

Khích lệ mình bằng phần thưởng

Việc học hiệu quả nhất khi tinh thần cảm thấy thoải mái. Vậy để duy trì trạng thái này thì tại sao chúng mình không tự thưởng cho bản thân mình nhưng món quà ý nghĩ sau những sự cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.Trong quá trình học tập, việc tự treo giải thưởng ở cuối đoạn đường sẽ giúp bạn có “động lực” học tập.

Một chiếc áo xinh, một chuyến đi chơi cùng bạn bè… là những món quà vô cùng ý nghĩa đối với bản thân. Nó sẽ khiến bạn thích thúc và yêu bản thân mình hơn và sẽ cố gắng hơn nữa để hoàn thành việc học một cách ngon ơ. Còn gì thú vị hơn khi vừa học giỏi, vừa có quà các bạn nhỉ!.

Học và hành sóng đôi

Bạn có thể nhớ rất nhanh, thuộc cả một bài thơ dài nhưng bạn có biết rằng, không thực hành thì nhưng gì bạn “thuộc lòng” nhanh chóng biến mất.
Đó là lý do mà có những sĩ tử bước vào phòng thi là… choáng váng vì không hiểu làm sao mà mình nhớ câu trước nhưng quên câu sau. Gắn các bài học với thực tế cũng là một cách quan trọng và cốt lõi để chúng mình không quên kiến thức đấy.

Việc gắn kiến thức sách vở với thực tiễn tùy cách bạn áp dụng. Ví dụ môn Văn, bạn chịu khó quan sát ở bên ngoài, môn Sử học qua các phương pháp khác nhau, Hóa và Vật Lý gắn với các hiện tượng tự nhiên chẳng hạn. Kết hợp hài hòa, bạn sẽ tự tin khi bước vào phòng thi đấy nhá!

Ố ố: Học vì ngày mai lập nghiệp!

Câu này quá quen thuộc rồi. Nhưng không phải bạn nào cũng hiểu tại sao phải học, học để ngày mai lập nghiệp để làm gì?
Bạn muốn trở thành giáo viên, bác sĩ, hay một ca sĩ nổi tiếng? Tất cả đều phụ thuộc vào bạn có được có một nền kiến thức tốt, một kết quả học tập tốt và sự say mê trong học tập hay không. Nếu không có những yếu tố trên thì giấc mơ của bạn vẫn mãi ngủ yên trong tiềm thức. Cho dù nghề nghiệp tương lai của bạn không đòi hỏi phải có bằng cấp, nhưng nó được đánh giá qua hiệu quả công việc cũng như khả năng ứng biến của bạn trong công việc. Bạn sẽ xử lý sao khi được giao cho một công việc mà kiến thức chuyên ngành, nền tảng tri thức không có. Cũng có thể nhiều teen ỷ lại cha mẹ. Nhưng những suy nghĩ như vậy khiến cho căn bệnh lười học càng nặng hơn.

Muốn xây nhà cho tương lai, thì phải xây cho mình một nền móng tri thức vững chắc trước đã. Dù bạn đam mê bất cứ môn học gì, cũng đều có ý nghĩa nhất định cả đấy!

Đôi bạn cùng tiến – Để cho trí tưởng tượng bay xa

“Học thầy không tày học bạn” hay “Thua thầy một vạn không bằng kém bạn một li”. Vì thế, thật vui khi bên bạn luôn có những đối thủ xứng đáng để bạn phải suy nghĩ, tìm cách “trừng trị”, sự ganh đua, không để cho ai vượt mình và không ai được phép vượt mình là tố chất giúp bạn thành công đấy.

Trong học tập, bạn cũng cần chuẩn bị cho mình một không gian học tập thoáng đãng. Sự thoáng đãng không đơn giản là một góc học tập chẳng bị ai làm phiền, quan trọng hơn là sự thoáng đãng trong chính tâm hồn mình cơ, loại bỏ ra khỏi đầu những tiếng ồn ã xung quanh làm bạn mất tập trung, đảm bảo độ sáng cho nơi học của bạn. Sắp xếp mọi thứ gọn gàng nhất có thể, tiện đâu là lấy đấy.

Chúc các teen thành công mùa thi tới nhé!

Chuyên mục
Học vui

Cân bằng phương trình hóa học bằng máy tính cầm tay Fx 500 và Fx750

Trung tâm luyện thi đại học Tô Hoàng chia sẻ với các bạn cách cân bằng phương trình hóa học bàng máy tính cầm tay. Các bạn có thể tham khảo thêm đây cũng có thể là phương pháp tốt giúp các bạn giải quyết nhanh các bài toán hóa học giúp các bạn làm tài tốt hơn và thuận tiện hơn.

Chỉ với chiếc máy tính cầm tay có thể giải hệ 3 phương trình 3 ẩn là bạn có thể cân bằng phương trình hóa học mà bạn không cần biết 1 tý gì về hóa học, điều này xét về mặc hóa học thì nó là một điều phản hóa học nhưng với tình hình hóa học chỉ chú trọng đào tạo để đi thi thì kết quả cuối cùng mới là điều quan trọng .tôi viết bài này không vì lợi danh chỉ muốn được góp chút sức lực nhằm giúp các bạn có kết quả cao hơn trong học tập

Ở đây có 4 cách để các bạn tham khảo các bạn có thể áp dụng các cách khác nhau trong từng bài tập riêng.

Các bạn tải về tại đây : http://www.mediafire.com/download/6q3ny8sydoifosp/can-bang-pt-hh-bang-may-tinh-cam-tay.docx

Trung tâm luyện thi Tô Hoàng chúc các bạn ôn thi tốt!

Chuyên mục
Học vui

Cách ôn tập, làm bài thi tốt nghiệp THPT môn Toán hiệu quả

Thạc sĩ Nguyễn Sơn Hà – Trường THPT Chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội có những lưu ý rất chi tiết giúp học sinh ôn tập và làm bài thi môn Toán tốt nghiệp THPT và ôn thi đại học một cách hiệu quả nhất. ngoài ra cũng có thể giúp các bạn họ sinh trong lúc luyện thi đại học

I. Hướng dẫn chung về việc ôn tập và làm bài thi

Khi ôn tập cần chú ý: ‘Nhớ công thức, hiểu phương pháp giải các dạng bài tập, vận dụng kiến thức để suy luận và tính toán chính xác trong các tình huống cụ thể’. Khi làm bài thi cần chú ý ‘tiêu chí 3Đ’ : Đúng kết quả, đủ ý, trình bày đẹp’

1. Hướng dẫn ôn tập

– Nhớ và hiểu được tất cả các công thức trong Sách giáo khoa THPT lớp 12, biết vận dụng vào các bài tập cụ thể.

– Ôn tập hệ thống các dạng toán trong sách giáo khoa và sách bài tập môn Toán lớp 12

– Sử dụng tài liệu Hướng dẫn Ôn tập thi tốt nghiệp THPT năm học 2011 – 2012 của Nhà xuất bản giáo dục

– Tham khảo một số đề thi tốt nghiệp THPT môn toán những năm gần đây để biết mức độ kiến thức của một đề thi tốt nghiệp THPT.

– Tham khảo cấu trúc đề thi tốt nghiệp môn Toán của Bộ giáo dục năm 2010

– Tham khảo nội dung giảm tải môn toán THPT được Bộ giáo dục và Đào tạo thông báo đầu năm học 2011-2012

– Tham khảo đáp án và thang điểm của đề thi tốt nghiệp THPT những năm gần đây để rút kinh nghiệm trong việc trình bày.

– Mặc dù trọng tâm kiến thức thi tốt nghiệp tập trung ở chương trình lớp 12 nhưng phần lớn các bài toán THPT đều liên quan đến việc rút gọn một biểu thức, giải phương trình và bất phương trình bậc nhất, giải phương trình và bất phương trình bậc hai, giải hệ phương trình, giải phương trình chứa dấu giá trị tuyệt đối, giải phương trình chứa ẩn ở mẫu, giải phương trình vô tỉ, giải bất phương trình vô tỉ, giải phương trình và bất phương trình tích. Học sinh cần phải nắm vững các kiến thức, kĩ năng nói trên và một số kiến thức liên quan được học ở các lớp 7, 8, 9, 10 như: quy tắc phá ngoặc, quy tắc nhân hai đa thức, quy tắc chia đa thức cho đa thức (tình huống thường gặp là chia tam thức bậc hai cho nhị thức bậc nhất), định lí về dấu của nhị thức bậc nhất, định lí về dấu của tam thức bậc hai.

2. Hướng dẫn làm bài thi

– Học sinh cần phải chú ý ‘tiêu chí 3 Đ: Đúng – Đủ – Đẹp’ trong một bài thi: kết quả đúng, đủ ý, trình bày đẹp. Thang điểm của bài thi thường được đặt bên cạnh đáp số của mỗi phép toán. Nếu học sinh tính toán sai hoặc viết nhầm thì mất rất nhiều điểm. Nếu học sinh viết sai ở phần nào thì sẽ mất điểm toàn bộ phần sau đó khi có liên quan với nhau về nội dung.

+ Học sinh phải viết đúng các công thức toán, viết đúng các kí hiệu toán,

rút gọn đúng các biểu thức và kết quả đúng ở tất cả các phép toán.

+ Học sinh phải trình bày đủ ý; các bài toán thi tốt nghiệp bám sát nội dung sách giáo khoa và đều có quy trình giải, vì vậy học sinh phải trình bày đầy đủ các ý trong quy trình giải một bài toán như: quy trình khảo sát và vẽ đồ thị hàm số, quy trình tìm giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của hàm số trên một tập hợp, quy trình tính tích phân bằng phương pháp đổi biến…Thang điểm của bài thi sẽ căn cứ vào các bước trong quy trình giải toán, nếu học sinh trình bày đủ các ý thì sẽ không bị mất điểm. Ngoài ra, học sinh cần phải có đáp số hoặc kết luận trong lời giải mỗi bài toán vì biểu điểm thường có 0,25 điểm ở phần kết luận, đáp số.

+ Để đạt điểm cao, học sinh phải trình bày đẹp, diễn đạt tốt, các ý rõ ràng. Thang điểm của bài thi thường có sau mỗi suy luận logic hoặc sau mỗi phép biến đổi, tính giá trị biểu thức… Vì vậy, sau mỗi suy luận logic hoặc biến đổi, tính toán biểu thức…; học sinh nên xuống dòng, chia ý rõ ràng. Tránh tình trạng viết lời giải một bài toán như viết một đoạn văn, khi đó nếu học sinh sai ở dòng cuối cùng thì có thể bị mất nhiều điểm.

– Đặt điều kiện và kiểm tra điều kiện: Khi viết mỗi biểu thức toán học, nếu gặp biểu thức chứa ẩn ở mẫu, biểu thức chứa căn bậc hai, biểu thức logarit, học sinh cần có thói quen đặt điều kiện để các biểu thức có nghĩa. Ngoài ra, với biểu diễn đại số của số phức z=a+bi ta phải điều kiện a, b là các số thực. Trước khi kết luận đáp số bài toán, học sinh cần có thói quen kiểm tra lại điều kiện.

– Làm bài dễ để củng cố tinh thần: Học sinh cần đọc đề thi vài lượt, chọn bài dễ làm trước và viết ngay vào bài thi, khi trình bày được vào bài thi, tinh thần làm bài của học sinh sẽ tốt hơn. Bài khảo sát và vẽ đồ thị hàm số là bài có sẵn quy trình giải và luôn xuất hiện trong các kì thi tốt nghiệp THPT, học sinh có thể làm ngay bài khảo sát trước. Nếu học sinh làm bài khó không ra kết quả thì có thể mất tinh thần làm bài.

II. Hướng dẫn ôn tập từng chủ đề

1. Chủ đề Ứng dụng đạo hàm để khảo sát và vẽ đồ thị của hàm số.

Học sinh cần nắm vững các vấn đề sau đây:

– Quy trình khảo sát và vẽ đồ thị các hàm số: hàm đa thức bậc ba, hàm trùng phương, hàm phân thức bậc nhất trên bậc nhất. Trong phần này, học sinh cần luyện tập nhiều kĩ năng tính đạo hàm, xét dấu đạo hàm, lập bảng biến thiên của hàm số. Biểu điểm thường tập trung vào các mốc quan trọng như: tập xác định, nghiệm của đạo hàm, dấu của đạo hàm, cực trị, các khoảng đơn điệu, giới hạn và tiệm cận (nếu có), bảng biến thiên, tính đối xứng của đồ thị hàm trùng phương, giao điểm của đồ thị với trục Oy, vẽ đúng dáng của đồ thị hàm số và các điểm đặc biệt, các đường tiệm cận (nếu có). Với hàm phân thức bậc nhất trên bậc nhất, cần chú ý rằng giới hạn của hàm số khi x dần đến vô cực sẽ bằng một hằng số thực (không được nhầm lẫn là hàm số có giới vô cực khi x dần đến vô cực)

– Các dạng tiếp tuyến: tiếp tuyến tại một điểm có hoàng độ cho trước,tiếp tuyến tại một điểm có tung độ cho trước, tiếp tuyến đi qua một điểm cho trước, tiếp tuyến có hệ số góc cho trước, tiếp tuyến song song hoặc vuông góc với một đường thẳng cho trước. Khi lập phương trình tiếp tuyến, ta thường phải lập phương trình để tìm hoành độ của tiếp điểm. Tìm điều kiện để một đường thẳng tiếp xúc với đồ thị hàm số

– Các dạng tiệm cận của đồ thị hàm số: tiệm cận đứng, tiệm cận ngang.

– Sự liên hệ giữa số giao điểm của đường thẳng và đồ thị hàm số với số nghiệm thực phân biệt của phương trình hoành độ giao điểm. Quan sát số điểm chung của đường thẳng y=m với đồ thị y=f(x) để biện luận số nghiệm thực của phương trình f(x)=m hoặc xét số nghiệm thực của phương trình để suy ra số giao điểm.

– Dấu hiệu nhận biết hàm số đồng biến, hàm số nghịch biến trên một khoảng xác định; điều kiện để hàm số đồng biến, nghịch biến trên một khoảng xác định.

– Các điều kiện để hàm số có cực trị: Điều kiện cần để hàm số đạt cực trị, điều kiện đủ để hàm số đạt cực đại, cực tiểu. Tìm điều kiện để hàm số đạt cực đại hoặc cực tiểu tại một điểm cho trước.

– Phương pháp tìm giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của hàm số trên một tập hợp số (đoạn, khoảng, nửa khoảng). Khảo sát trực tiếp hàm số ban đầu hoặc hoặc khảo sát gián tiếp hàm số của biến mới (đổi biến).

– Phương pháp vận dụng tính đơn điệu của hàm số để chứng minh bất đẳng thức, giải phương trình, hệ phương trình.

2. Chủ đề Hàm số lũy thừa, hàm số mũ và hàm số logarit.

Học sinh cần nắm vững các vấn đề sau:

– Điều kiện xác định của biểu thức logarit.

– Đạo hàm của hàm lũy thừa, hàm số mũ và hàm số logarit.

– Các phương pháp biến đổi tương đương giải phương trình, bất phương trình mũ, logarit: phương pháp đưa về cùng cơ số, phương pháp logarit hóa; một số phương trình đặc biệt có thể được chuyển về phương trình tích, bất phương trình tích.

– Phương pháp đặt ẩn phụ giải phương trình, bất phương trình mũ, logarit.

– Phương pháp sử dụng tính đơn điệu của hàm số để giải phương trình, bất phương trình logarit

– Phương pháp thế, phương pháp đặt ẩn phụ giải hệ phương trình mũ, logarit.

3. Chủ đề Nguyên hàm, tích phân và ứng dụng.

Học sinh cần nắm vững các vấn đề sau:

– Các công thức đạo hàm được giới thiệu trong Sách giáo khoa lớp 11.

– Bảng nguyên hàm, tích phân của một số hàm số thường gặp: Hàm lũy thừa, hàm số mũ, hàm số logarit, hàm số lượng giác

– Nhớ các biểu thức vi phân của sinx, cosx, tanx, cotx, ex, lnx, xk

– Phương pháp đổi biến số tính nguyên hàm, tích phân: Chú ý đổi biến số đồng thời với đổi vi phân, với bài toán tính tích phân thì đổi biến số đồng thời với đổi vi phân và đổi cận. Chú ý: vi phân và cận phải được viết tương ứng với biến dưới dấu nguyên hàm, tích phân.

– Phương pháp lấy nguyên hàm từng phần, tích phân từng phần. Nếu biểu thức dưới dấu nguyên hàm tích phân có một trong dạng (ax+b)sinnx, (ax+b)cosnx, (ax+b)emx+n thì ta chọn u=ax+b, nếu biểu thức trong nguyên hàm tích phân có dạng (ax2+bx+c)lnx thì ta chọn u=lnx; trong các trường hợp trên, chọn dv là thành phần còn lại dưới dấu nguyên hàm, tích phân.

– Với nguyên hàm, tích phân của hàm lượng giác, học sinh cần chú ý công thức lượng giác biến tích thành tổng, công thức nhân đôi, công thức hạ bậc (Sách giáo khoa lớp 10).

– Ứng dụng tích phân tính diện tích hình phẳng. Để làm tốt phần này, học sinh cần rèn kĩ năng tính tích phân của hàm chứa dấu giá trị tuyệt đối; kĩ năng xét dấu của biểu thức bậc nhất, biểu thức bậc hai, phân thức hữu tỉ bậc nhất trên bậc nhất. Học sinh cần chú ý viết đúng công thức tính diện tích thông qua tích phân của hàm chứa dấu giá trị tuyệt đối sau đó tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mới phá dấu giá trị tuyệt đối hoặc chuyển về giá trị tuyệt đối của tích phân.

– Ứng dụng tích phân tính thể tích của khối tròn xoay: Học sinh cần chú ý hằng đẳng thức đáng nhớ: bình phương một tổng, bình phương một hiệu. Nếu xoay hình quanh trục Ox thì dùng vi phân dx, nếu xoay hình quanh trục Oy thì dùng vi phân dy

4. Chủ đề số phức. Học sinh cần nắm vững những vấn đề sau:

– Dạng đại số của số phức, phần thực và phần ảo của số phức, số phức liên hợp của một số phức, mô đun của số phức, điều kiện để một số phức là số thực, điều kiện để một số phức là số ảo. Chú ý: Khi viết dạng đại số z=a+bi ta phải có điều kiện a, b là các số thực.

– Phép toán giữa hai số phức. Ta có thể áp dụng tính chất của số phức tương tự như đối với số thực đó là: tính chất giao hoán, tính chất kết hợp, tính chất phân phối giữa phép nhân và phép cộng, hằng đẳng thức đáng nhớ. Các kĩ năng nhân và chia biểu thức với đại lượng liên hợp thường được sử dụng khi biến đổi rút gọn phân thức liên quan đến số phức. Chú ý là chỉ có dấu bất đẳng thức giữa hai số thực nhưng không có dấu bất đẳng thức giữa hai số phức bất kì.

– Phương trình bậc nhất đối với số phức: sử dụng phép toán giữa các số phức hoặc sử dụng dạng đại số của số phức để giải phương trình.

– Phương trình bậc hai nghiệm phức: Nếu đen ta bằng 0 hoặc đen ta là số thực dương thì ta sử dụng công thức nghiệm như đối với phương trình bậc hai nghiệm thực. Nếu đen ta không phải là số thực thì phải chọn các số thực m, n để có thể biểu diễn đen ta bằng biểu thức (m+ni)2

– Phương trình tích với nghiệm phức được biến đổi tương tự như đối với nghiệm thực

– Phương trình dạng A2+B2 = 0 ta không thể giải tương tự như đối với nghiệm thực mà phải chuyển về phương trình tích (A+iB)(A-iB)=0

– Sử dụng dạng đại số của số phức để tìm căn bậc hai của số phức.

– Biểu diễn hình học của số phức: Tìm tập hợp điểm biểu diễn số phức thỏa mãn một tính chất xác định. Tình huống thường gặp là viết z=x+yi với x, y là các số thực, biến đổi các điều kiện liên quan đến z tương đương với x, y thỏa mãn một phương trình đường thẳng hoặc đường tròn.

– Dạng lượng giác của số phức (dành cho học sinh ban nâng cao): Cho số phức dưới dạng đại số, biểu diễn số phức dưới dạng lượng giác, tìm acgumen, sử dụng công thức Moa-vrơ tìm lũy thừa bậc n của số phức; sử dụng dạng lượng giác để thực hiện phép toán giữa hai số phức. Trong phần này, học sinh cần nắm vững một số công thức lượng giác của lớp 10 như công thức liên quan đến giá trị lượng giác của hai góc phụ nhau, hai góc bù nhau, hai góc đối nhau, công thức cộng, công thức nhân đôi…

5. Chủ đề Khối đa diện. Học sinh cần chú ý những vấn đề sau

– Công thức tính diện tích của tam giác, diện tích hình thang, diện tích hình chữ nhật, thể tích của khối chóp, thể tích khối lăng trụ tam giác và lăng trụ tứ giác.

– Trong phần thể tích, học sinh thường phải tính đường cao của hình chóp hoặc hình lăng trụ. Các tình huống thường gặp:

i) hình chóp đều có đường cao đi qua tâm của mặt đáy;

ii) hình lăng trụ đứng có đường cao bằng cạnh bên.

iii) hình chóp hoặc hình lăng trụ có một cạnh bên vuông góc với mặt đáy, khi đó chiều cao của hình chóp bằng độ dài của cạnh bên, hình chiếu vuông góc của các cạnh bên còn lại trên mặt đáy là đoạn thẳng có một đầu múc là chân đường cao. Từ đó có thể xác định góc giữa đường thẳng chứa cạnh bên và mặt phẳng chứa đáy của đa diện

iv) hình chóp hoặc hình lăng trụ có một mặt bên vuông góc với mặt đáy, khi đó đường cao của hình chóp hoặc hình lăng trụ là đường cao của mặt bên và hình chiếu của mọi đường thẳng thuộc mặt bên trên đáy trùng với giao tuyến. Từ đó có thể xác định góc giữa đường thẳng chứa cạnh bên và mặt phẳng chứa đáy của đa diện

– Học sinh nắm vững cách xác định góc giữa hai đường thẳng, góc giữa đường thẳng và mặt phẳng, góc giữa hai mặt phẳng.

– Nếu giả thiết của bài toán có hai mặt phẳng vuông góc với nhau thì thường kẻ thêm đường phụ là đường thẳng trong một mặt phẳng và vuông góc với giao tuuyến, khi đó đường này sẽ vuông góc với mặt phẳng còn lại. Nếu giả thiết có hai mặt phẳng cùng vuông góc với mặt thứ ba thì thường dùng đến giao tuyến của hai mặt phẳng vì giao tuyến sẽ vuông góc với mặt thứ ba

– Để làm tốt chủ đề này, học sinh phải nhớ định lí Pytago trong tam giác vuông, định lí cosin trong tam giác, hệ thức liên hệ giữa góc và cạnh trong tam giác vuông.

6. Chủ đề Hình cầu, hình trụ, hình nón

– Nắm vững công thức diện tích của mặt cầu, thể tích của khối cầu, diện tích xung quanh của hình trụ, thể tích khối trụ, diện tích xung quanh của hình nón và thể tích khối nón.

– Với dạng toán hình cầu, học sinh phải biết xác định tâm mặt cầu ngoại tiếp đa diện. Có thể cần phải xác định tâm của đường tròn ngoại tiếp một mặt của đa diện, từ đó xác định trục của đường tròn ngoại tiếp. Một số trường hợp thường gặp:

i)các đỉnh đa diện cùng nhìn hai điểm cố định dưới một góc vuông, khi đó tâm mặt cầu là trung điểm đoạn nối hai điểm cố định;

ii)hình chóp có các cạnh bên bằng nhau, khi đó đáy của đa diện là đa giác nội tiếp đường tròn và hình chiếu của đỉnh trên đáy trùng với tâm đường tròn ngoại tiếp của đáy, trục của đường tròn ngoại tiếp đáy chứa đường cao hình chóp; hình chóp đều có tâm mặt cầu ngoại tiếp thuộc đường cao;

iii) hình chóp có đáy là tam giác vuông, khi đó trục của đường tròn ngoại tiếp đáy là đường thẳng đi qua trung điểm của cạnh huyền và vuông góc với đáy.

Như vậy, để nắm vững dạng toán này, học sinh phải nắm vững các loại quan hệ vuông góc: đường thẳng vuông góc với đường thẳng, đường thẳng vuông góc với mặt phẳng, hai mặt phẳng vuông góc.

7. Phương pháp tọa độ trong không gian

– Nắm vững công thức tọa độ tích có hướng của hai véc tơ. Biết sử dụng tích

có hướng của hai véc tơ để tính diện tích tam giác, tính thể tích khối hộp, thể tích khối tứ diện (ban nâng cao). Sử dụng tích có hướng của hai véc tơ để xác định véc tơ chỉ phương của đường thẳng khi véc tơ chỉ phương vuông góc với hai véc tơ cho trước, sử dụng tích có hướng của hai véc tơ để xác định véc tơ pháp tuyến của hai mặt phẳng khi véc tơ pháp tuyến vuông góc với hai véc tơ cho trước.

– Nắm vững các dạng phương trình đường thẳng: phương trình tham số và phương trình chính tắc, nắm vững phương trình mặt phẳng và phương trình mặt cầu. Chú ý các dạng mặt phẳng đặc biệt (song song với các mặt phẳng tọa độ, chứa các trục tọa độ,…).

– Để lập phương trình đường thẳng, học sinh thường phải chỉ ra một điểm thuộc đường thẳng và véc tơ chỉ phương. Có thể sử dụng quan hệ song song, quan hệ vuông góc và tích có hướng để tìm véc tơ chỉ phương

– Để lập phương trình mặt phẳng, học sinh thường phải chỉ ra một điểm thuộc mặt phẳng và véc tơ pháp tuyến. Có thể sử dụng quan hệ song song, quan hệ vuông góc và tích có hướng để tìm véc tơ pháp tuyến

– Một số dạng toán và kiến thức liên quan:

i) Lập phương trình mặt phẳng thỏa mãn một trong các điều kiện: mặt phẳng chứa ba điểm phân biệt, chứa một đường thẳng và một điểm ngoài đường thẳng, đi qua một điểm và vuông góc với một đường thẳng cho trước, đi qua một điểm và song song với một mặt phẳng cho trước, đi qua một điểm và song song với hai đường thẳng cho trước, tiếp xúc mặt cầu tại một điểm cho trước, mặt phẳng chứa một đường thẳng và song song với một đường thẳng khác.

ii) Lập phương trình đường thẳng thỏa mãn một trong các điều kiện sau: đường thẳng đi qua hai điểm cho trước, đi qua một điểm và song song với một đường thẳng cho trước, đi qua một điểm và vuông góc với một mặt phẳng cho trước, đi qua một điểm vuông góc với hai đường cho trước, đi qua một điểm đồng thời vuông góc và cắt một đường cho trước, đường thẳng là giao tuyến của hai mặt phẳng cho trước.

iii) Lập phương trình mặt cầu thỏa mãn một trong các điều kiện sau: mặt cầu có tâm và bán kính cho trước, có tâm và đi qua một điểm cho trước, có tâm và tiếp xúc với một mặt phẳng cho trước, có tâm và tiếp xúc với một đường thẳng cho trước (ban nâng cao), chứa bốn điểm cho trước.

iv) Góc giữa hai đường thẳng, góc giữa hai mặt phẳng (ban nâng cao).

v) Khoảng cách từ một điểm đến mặt phẳng, khoảng cách từ một điểm đến đường thẳng, khoảng cách giữa hai đường thẳng chéo nhau.

– Trong nhiều trường hợp, học sinh phải tham số hóa tọa độ của một điểm (biểu diễn tọa độ theo tham số), từ đó lập phương trình tìm tham số.

III. Một số nhược điểm thường gặp ở nhiều học sinh khi viết bài thi môn toán

– Thiếu điều kiện, thiếu kết luận hoặc kết luận thừa nghiệm

– Sử dụng các kí hiệu không được quy ước trong sách giáo khoa, viết tắt tùy tiện

– Biến đổi tương đương tùy tiện với những tình huống chỉ đúng một chiều là suy ra

– Viết nhầm lẫn giữa các chữ cái O, D, P

– Viết nhầm lẫn giữa số 6 chữ b, viết nhầm lẫn giữa số 2 và chữ z

– Viết nhầm lẫn giữa chữ C, kí hiệu ngoặc đơn ( và kí hiệu tập con

– Viết nhầm lẫn giữa kí hiệu phần tử thuộc tập hợp và kí hiệu tập con

– Viết chữ t thiếu nét nên giống dấu + hoặc giống số 1

– Viết chữ i (đơn vị ảo) giống số 1

Học sinh cần rèn luyện để không mắc phải các nhược điểm trên

Thạc sĩ Nguyễn Sơn Hà

Chuyên mục
Học vui

Cách làm tốt bài kiểm tra đạt kết quả cao nhất

Để có thể làm tốt trong bài kiểm tra, bạn phải trước hết, học thật kĩ các tài liệu liên quan, rồi ôn lại trước khi kiểm tra.

Đây là một vài phương pháp giúp bạn hiểu những tài liệu của bạn hơn:

Học thật kĩ

Hãy ghi chép cẩn thận trong giờ giảng của thầy cô và từ sách giáo khoa
Xem chỉ dẫn ở Ghi chép trong giờ học
(và Ghi chép từ sách giáo khoa)
Ngay sau tiết học hoặc ngay khi về nhà, hãy xem lại những gì bạn đã ghi chép được.
Xem qua lại bài trước buổi học sau.
Định ra một khoảng thời gian dài hơn vào cuối tuần để ôn lại thật kĩ.
Ôn thật kĩ

Ghi chép cẩn thận và chi tiết
Những gì thầy cô dặn về những vấn đề sẽ xuất hiện trong bài kiểm tra sắp tới
Sắp xếp những ghi chép, sách vở và bài tập
Theo thứ tự những gì sẽ gặp trong bài kiểm tra
Ước lượng
xem bạn cần bao lâu để ôn tập
Lập một thời gian biểu
Chỉ ra khoảng thời gian bạn dành để ôn tập và bạn có những tài liệu gì
Tự kiểm tra mình qua các tài liệu
Học hết những gì bạn cần trước ngày kiểm tra

Trung tâm luyện thi Tô Hoàng – Chúc các bạn ôn thi tốt !

Chuyên mục
Học vui

Học nhóm – cách học cần đoàn kết mới đạt hiệu quả

Để đạt được kết quả tốt, một nhóm học tập đòi hỏi các thành viên của nó phải có tính tập thể, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau. Dưới đây là một số chỉ dẫn mà bạn có thể áp dụng để có một nhóm học tập xuất sắc.

Một trong những cách khắc phục điểm yếu cá nhân và tăng hiệu suất học tập đó chính là học theo nhóm. Nhóm là một tập hợp nhỏ những học sinh, sinh viên đang học cùng một môn học hoặc cùng theo đuổi một mục đích học tập chung.

1. Xác định mục đích rõ ràng

Một nhóm hoạt động tốt luôn có những mục đích rõ ràng. Mỗi thành viên trong nhóm cộng tác, liên kết với người khác để cùng theo đuổi một mục đích chung. Mục đích đó có thể là cùng nhau hoàn thành một đề tài đã được giao, ôn tập để vượt qua kì thi cuối kì, giúp đỡ học sinh yếu trong lớp nâng cao thành tích,…Mục tiêu rõ ràng sẽ giúp nhóm của bạn đi đúng hướng và không bị phân tán trong quá trình học tập. Vì vậy, các thành viên trong nhóm cần cùng nhau bàn bạc, thảo luận, thống nhất một mục đích chung thật cụ thể và rõ ràng.

2. Chọn người chỉ huy

Nhóm là tập hợp những cá thể khác nhau, có sự phân biệt rõ ràng về tính cách và nhận thức. Để nhóm đạt được sự thống nhất và hoạt động suôn sẻ trên hành trình dẫn đến mục tiêu luôn cần một người chỉ huy tốt. Đó có thể là người thông minh nhất trong nhóm, người có nhiều ý tưởng nhất,…Người đó phải có tiếng nói và có khả năng thuyết phục, thống nhất tất cả các thành viên còn lại. Tốt nhất hãy để cả nhóm cùng bàn bạc và chọn ra một người chỉ huy. Một khi đã chọn ra người đứng đầu, thì tất cả các thành viên còn lại trong nhóm hãy lắng nghe và tuân theo sự chỉ huy của họ.

3. Sự cộng tác giúp đỡ lẫn nhau

Người chỉ huy có trách nhiệm phân công công việc cho các thành viên và công bố mục đích chung, cũng như kết quả của của mọi công việc. Người chỉ huy cần phải biết điểm mạnh, điểm yếu của từng thành viên để bố trí công việc thật hợp lí. VD: Bạn A chăm chỉ và cẩn thận có thể giao cho việc ghi chép lịch học, chuẩn bị tài liệu cho cả nhóm, bạn B học tốt nhất thì đảm nhận giảng giải những vẫn đề khó cho nhóm,…Mỗi người mỗi việc, tùy theo năng lực mà phân công để nhóm hoạt động với hiệu quả cao nhất.

Là một thành viên trong nhóm, bạn chia sẻ những gì bạn biết và không biết với các thành viên còn lại. Bạn giúp họ hiểu vấn đề đồng thời nhận lại sự hỗ trợ từ phía họ. Kiến thức bạn cho đi không hề mất, đồng thời bạn được nhận lại nhiều kiến thức khác. Bạn phải mở rộng bản thân để học nhiều thứ từ những thành viên khác. Bạn phải đánh giá những gì họ nói, kiểm tra, kết luận. Bạn cần tích cực tham gia, đưa nhiều ý tưởng và giúp đỡ mọi người.

4. Cùng thảo luận và trao đổi

Hãy cùng nhau đọc tài liệu, thảo luận và trao đổi về các bài viết, thuyết trình để đưa ra những nhận định đúng về vấn đề cần giải quyết. Mục đích không phải để cả nhóm viết lại bài viết, bài thuyết trình mà là để mọi người cùng quan tâm đến một vấn đề và thu thập thật nhiều ý tưởng xung quanh vấn đề đó. Tinh thần tập thể chính là điểm mạnh của việc học tập theo nhóm.

5. Tranh luận nhưng đừng căng thẳng

Một sự thật hiển nhiên đó là chúng ta luôn khác nhau và luôn cho rằng bản thân mình đúng, điều đó làm nổ ra các cuộc tranh luận. Tuy nhiên, nếu cùng ở trong một nhóm học tập, bạn cần thông cảm với những điểm chưa hoàn hảo của người khác, và họ cũng sẽ bỏ qua những thiếu sót của bạn. Tranh luận nhưng đừng cãi vã. Tranh luận căng thẳng sẽ khiến nhóm của bạn mất đoàn kết.

Hãy cộng tác với nhau để việc học tập trở nên dễ dàng hơn. Tất cả những gánh nặng của mọi người đều trở nên nhẹ đi nếu xác định được mục đích rõ ràng, chọn được người chỉ huy phù hợp, cộng tác và giúp đỡ lẫn nhau, cùng thảo luận và trao đổi, tranh luận nhưng không căng thẳng. Tuân thủ những chỉ dẫn trên, chắc chắn nhóm của bạn sẽ hoàn thành mục đích một cách xuất sắc.

Chuyên mục
Học vui

Giúp bạn học tốt hơn trong mùa đông

Vào mùa đông thì “bệnh lười” sẽ lấn át khiến các bạn trở nên lười biếng, sức khỏe yếu hơn,… nên việc học vì thế cũng bị ảnh hưởng ít nhiều.

Vậy là mùa đông đã tràn về các tỉnh thành phía Bắc. Đối với các teen phía Nam thì dường như không biết đến cái lạnh của mùa đông là gì, nên việc học tập và các hoạt động vui chơi không bị ảnh hưởng nhiều. Còn các teen phía Bắc hàng năm phải trải qua một mùa đông tương đối “khắc nghiệt”. Nó ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập, sinh hoạt và vui chơi. Tuy nhiên, đây cũng là dịp các bạn thể hiện sự quyết tâm của mình để tạo đà nước rút cho một kỳ học hay năm học sắp kết thúc. Cũng giống như các giải bóng đá châu Âu, đặc biệt là giải Ngoại hạng Anh, đây là dịp các đội bóng thể hiện bản lĩnh cũng như cơ hội để bứt phá trên bảng xếp hạng.
Vậy làm thế nào để các teen vẫn duy trì học tập và các hoạt động tốt qua mùa đông, dưới đây là những lời khuyên cho các bạn tham khảo.
Thực hiện ăn uống đầy đủ
Vào mùa đông cơ thể chúng ta có xu hướng tích năng lượng để sưởi ấm. Vì thế các bạn nên chú ý đến việc ăn uống cho điều độ, phù hợp và bổ sung thêm một số chế độ tăng cường để có năng lượng tốt nhất còn “chiến đấu” qua cái lạnh này. Hơn nữa, chúng ta vẫn thường xuyên nghe câu “Có thực mới vực được đạo”.
Chuẩn bị sẵn các bộ quần áo và phụ kiện cho mùa đông
Tất nhiên rồi, đây là việc chúng ta đã làm trước khi cái lạnh tràn về. Có rất nhiều bạn chủ quan coi thường sức khỏe, đôi khi còn muốn chứng tỏ với bạn bè. Mùa đông rất dễ mắc các bệnh về đường hô hấp (tai, mũi, họng…). Vì thế chúng ta không được chủ quan mà phải luôn giữ ấm cho mình, nếu không phải “gác kiếm” một thời gian dưỡng bệnh thì ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập.
Điều chỉnh lại kế hoạch và thời gian học tập
“Đêm tháng Năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng Mười chưa cười đã tối” – vào mùa đông ban ngày ngắn hơn so với mùa hè và ban đêm dài hơn. Vì thế chúng ta phải điều chỉnh lại kế hoạch phù hợp cho mình. Tuy nhiên, vẫn phải dành thời gian để giải trí và xả “stress” nhé.
Tận dụng thời gian ban ngày
Như trên, ngày mùa đông thường ngắn hơn đêm nên chúng ta thực hiện các kế hoạch nhỏ vào ban ngày. Đêm đến chúng ta thực hiện nốt các nhiệm vụ còn lại mà không phải thức quá khuya để đảm bảo cho giấc ngủ.
Có một tinh thần thép
Mọi việc trên hầu như ai cũng có thể làm được. Nhưng để có được tinh thần thép hay không lại là do sự quyết tâm của bạn. Đây cũng là yếu tố quan trọng và quyết định nhất để các bạn vượt qua tốt mùa đông. Có một câu chuyện vui mà nhiều bạn kể: “Vào mùa đông tớ đi ngủ sớm nhưng đặt chuông báo để thức dậy học bài. Sáng ra thật tội nghiệp cho cái đồng hồ, vừa bị “đập một cái” vừa không hoàn thành nhiệm vụ”. 
Thực chất của việc này là các bạn chưa có sự quyết tâm. Việc đi ngủ sớm đặt báo thức là để yên tâm. Còn khi báo thức dậy, lúc đó đầu óc chưa tỉnh táo nên quyết định việc đi ngủ tiếp là rất dễ. Vì vậy, chúng ta cố gắng hoàn thành hết nhiệm vụ rồi ngủ một mạch thì lương tâm đỡ “áy náy”. Đó chỉ là lời khuyên, vẫn có nhiều bạn báo thức mà sáng vẫn thực hiện được.
Vậy là mùa đông đã tràn về các tỉnh thành phía Bắc. Đối với các teen phía Nam thì dường như không biết đến cái lạnh của mùa đông là gì, nên việc học tập và các hoạt động vui chơi không bị ảnh hưởng nhiều. Còn các teen phía Bắc hàng năm phải trải qua một mùa đông tương đối “khắc nghiệt”. Nó ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập, sinh hoạt và vui chơi. Tuy nhiên, đây cũng là dịp các bạn thể hiện sự quyết tâm của mình để tạo đà nước rút cho một kỳ học hay năm học sắp kết thúc. Cũng giống như các giải bóng đá châu Âu, đặc biệt là giải Ngoại hạng Anh, đây là dịp các đội bóng thể hiện bản lĩnh cũng như cơ hội để bứt phá trên bảng xếp hạng.